"Đào hoa mộng ký" tác phẩm viết tiếp "Truyện Kiều"

Các nhà nghiên cứu của Viện Hán Nôm trong bộ sách "Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam" đã xác định trong thời trung đại, Việt Nam có tổng cộng 37 tiểu thuyết viết bằng chữ Hán. Trong đó có một hiện tượng văn học kỳ thú: Tác phẩm "Đào hoa mộng ký" do Tiên Phong Liên Đình soạn, Lê Bỉnh Đức đề thơ, Tương Giang Mai Cát Phủ đề từ và viết những phần bình luận. Văn bản còn lại ghi rõ đây là tác phẩm "Đào hoa mộng ký tục Đoạn trường tân thanh", tức là tác phẩm này viết nối tiếp "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du.

Hiện nay có hai bản "Đào hoa mộng ký", đều ở dạng viết tay, được tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội), mang các ký hiệu thư mục là VHv.2152 và A.436.

Tiên Phong Liên Đình tên thật là Nguyễn Đăng Tuyển (1795 - 1880). Ông còn có hiệu là Mộng Liên Đình và Hy Lượng Phủ, người làng Hoài Thượng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tú tài năm Minh Mệnh 17 (1836), làm Giám sinh Quốc tử giám, làm chủ sự Bộ Hộ rồi được thăng lên các chức Thừa chỉ, Thị độc, Sử quán biên tu và cuối cùng giữ chức Tri phủ Thuận Thành trước khi về hưu. Ông có đi sứ Trung Quốc. Ngoài "Đào hoa mộng ký", Nguyễn Đăng Tuyển còn có các tác phẩm như "Yên Đài anh ngữ", "Quốc phong thi hợp thái", "Sử ca".

Lê Bỉnh Đức tên thật là Lê Hựu, hiệu Thiệu Hiện và Lộc Đàm Chủ Nhân, nguyên Tổng đốc Bình Thuận. Còn Tương Giang Mai Cát Phủ chưa rõ tên thật và tiểu sử.

Một trang bản dịch quốc ngữ của “Đào Hoa Mộng Ký”.
Một trang bản dịch quốc ngữ của “Đào Hoa Mộng Ký”.

"Đào hoa mộng ký tục Đoạn trường tân thanh" như tên gọi, có thể nói là hậu "Truyện Kiều". "Đào hoa mộng ký tục Đoạn trường tân thanh" lấy bối cảnh hoàn toàn ở Việt Nam, với những địa danh Việt Nam. Tuy nhiên, phần chính của "Đào hoa mộng ký" với tư cách là một truyện thơ Nôm 8 quyển 20 hồi, thì nay chỉ còn lại 2 hồi, gần 300 câu. Các phần bình luận, dẫn nhập cho 18 hồi sau cũng đã mất theo. Nhưng còn hai thiên lược truyện bằng văn xuôi chữ Hán là "Hội chân ký" (Nguyên Sinh tiểu truyện) và "Đào hoa mộng" (Lan Nương tiểu truyện), tuy ngắn, nhưng cũng đủ cho chúng ta biết được nội dung của cốt truyện. Tác phẩm là sự hỗn hợp giữa tiểu thuyết chữ Hán và truyện thơ Nôm lục bát. Đây cũng là một sự kết hợp hiếm có giữa hai thể loại và là hiện tượng đặc sắc trong văn học trung đại Việt Nam.

Câu chuyện diễn ra là ở vùng Sơn Hưng Tuyên, vùng đất gắn liền với cuộc đời của Nguyễn Đăng Tuyển. Ông quê gốc ở Bắc Ninh, nhưng từ đời cha đã dọn đến vùng huyện Tiên Phong, Sơn Tây.

Câu chuyện "Đào hoa mộng ký" có thể tóm tắt như sau:

Nguyên Sinh người Giang Bắc, tổ tiên nhiều đời làm quan to cho nhà Lê. Sau khi nhà Lê mất, cha Sinh đưa gia đình di cư lên miền Tây. Sinh là con út trong gia đình, lúc chàng sắp chào đời, người mẹ mộng thấy nuốt một đóa sen trắng rồi sinh ra chàng, nhân đó đặt tên là Tịnh, tên chữ là Kim Liên. Lớn nên chàng am hiểu thi thư, âm luật, thường đi săn. Chàng lấy vợ là nàng Trần Thư (kiếp trước là Thúy Vân). Thường theo hầu chàng đi săn có bọn chó săn và chim ưng (chính là Ưng, Khuyển trong "Truyện Kiều").

Nàng Kiều Lan vốn họ Ngọc, là một cô đào hát có tài có sắc nổi danh ở Tây Giang, có cô em gái là Kiều Huệ (kiếp trước là Đạm Tiên) cũng có nhan sắc. Hai chị em mồ côi cha, sống với người mẹ là Lan Mẫu (hậu thân của vãi Giác Duyên). Kiều Lan biết chữ nghĩa và đặc biệt thích đọc tác phẩm "Đoạn trường tân thanh". Vào một ngày xuân, nhân có khóm đào trong vườn nhà nở rộ, nàng bẻ một cành và vịnh một bài thơ thương tiếc cho kiếp hoa sớm nở tối tàn. Đêm hôm đó, nàng mộng thấy chục cô bạn gái mặt hoa da phấn (là hậu thân của những cô gái ở cùng lầu xanh với Thúy Kiều, kiếp này là hoa thần) đến chào và báo cho biết nàng chính là hậu thân của Vương Thúy Kiều. Kiếp này nàng sẽ gặp người là hậu thân của Kim Trọng và họ sẽ sống với nhau tròn 15 năm, để bù lại 15 năm lưu lạc.

Vào mùa hè, ba mẹ con Kiều Lan chèo thuyền đến Hạc Giang chơi, ghé thăm chùa Hoa Long. Tại đó họ gặp Nguyên Sinh. Kiều Lan nghe thấy tên hiệu của chàng trùng với lời báo mộng của hoa thần, nàng biết đó chính là hậu thân của Kim Trọng. Về phần Nguyên Sinh, vừa nhìn thấy Kiều Lan đã thầm yêu. Vợ chàng là Trần Thư hiếm muộn, mẹ chàng cũng đang muốn tìm thêm cho chàng một người thiếp. Lan Mẫu, mẹ của Kiều Lan cũng có ý muốn gả Lan cho chàng. Lan Mẫu nhờ bà bán quán là Kiều Ẩu (kiếp trước là lão Ẩu nhà Hoạn Thư) và người chị dâu là Quan Thị (kiếp trước là mẹ Hoạn Thư) làm mối. Quan Thị có cô con gái mười hai, mười ba tuổi tên là Thư (kiếp trước là Hoạn Thư), mặt mũi xinh xắn. Lan Mẫu và Lan mời gia đình Kiều Ẩu cùng về quê với mình sinh sống. Thư bái Lan làm thầy, theo học đàn hát.

Việc mai mối thành, Nguyên Sinh và Kiều Lan thành vợ chồng, sống với nhau rất hạnh phúc. Mẹ Sinh và Trần Thư cũng rất vui mừng, ưu ái Lan. Ít lâu sau, Nguyên Sinh được lệnh đi làm việc quan. Kiều Lan ở nhà với mẹ và em, thỉnh thoảng sang sông thăm viếng mẹ chồng và Trần Thư. Kiều Huệ được một người khách buôn ở Việt Đông (kiếp trước là người khách phương xa) đến đưa sính lễ xin cưới. Lan Mẫu đồng ý gả. Kiều Huệ ra đi với chồng.

Mẹ Kiều Lan lâm bệnh nặng, dặn nàng chờ Nguyên Sinh về xây cho ngôi tháp trong chùa Hoa Long, táng xá lị của bà vào đó, lại bảo nàng tìm đường lên chùa Tàng Vân trên đỉnh Tam Đảo lập đàn chay cầu siêu cho bà. Cao Tăng (kiếp trước là Chung Công) ở chùa Hoa Long cho Kiều Lan mấy đạo bùa để giữ mình. Trên đường lên Tam Đảo, đoàn nô bộc của Kiều Lan bị con hồ tinh (kiếp trước là Hồ Tôn Hiến), cùng bọn tay chân là hầu tinh (kiếp trước là Sở Khanh), mã tinh (kiếp trước là Mã Giám Sinh), dương tinh (kiếp trước là Bạc Hạnh) và trư tinh (kiếp trước là Tú Bạc) ở động Hổ Nham săn đuổi. Ưng, Khuyển bị chết cháy.

Giữa lúc đó, một tù trưởng nghĩa hiệp là Dư Mỗi (kiếp trước là Từ Hải) đến giải cứu. Riêng Kiều Lan và Quan Thư được một Đạo Cô cứu, đưa lên đình Vọng Nguyệt ở sườn Tam Đảo, rồi đưa lên chùa Tàng Vân trên núi.

“Đào Hoa Mộng Ký” đã được in trong Tổng tập Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam.
“Đào Hoa Mộng Ký” đã được in trong Tổng tập Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam.

Sau khi giết được yêu tinh, danh tiếng của Dư Mỗi vang dội, nên Dư Mỗi bị bọn ghen ghét tố giác, bị quan tỉnh Sơn bắt giam. Nguyên Sinh theo lệnh triều đình trấn giữ Tuyên Quang, nhân ghé thăm nhà mà biết việc Kiều Lan lên Tam Đảo. Sau đó chàng được cử làm Tổng binh dẹp loạn ở hai tỉnh Sơn và Tuyên, nhân đó giải oan cho Dư Mỗi. Chàng lên đỉnh Tàng Vân ở Tam Đảo tìm gặp lại Kiều Lan và đưa nàng về thăm quê. Lúc này Kiều Huệ từ Việt Đông về, báo tin chồng đã mất. Kiều Huệ xuất gia, tu ngay tại ngôi chùa trong vườn nhà.

Nguyên Sinh dẹp loạn thắng lợi trở về lại được sai đi vỗ về dân chúng vùng biên, chàng dâng sớ xin tha cho Dư Mỗi. Nguyên Sinh còn cầm quân dẹp phỉ Thanh, cứu nhà buôn Mã Thương ở phố Hà Dương, con gái nhà buôn này là Mã Kiều (kiếp trước cũng là Mã Kiều) được gả cho Dư Mỗi. Một người bạn phong lưu giàu có của Dư Mỗi là Giải Sinh (kiếp trước là Thúc Sinh) được làm mối lấy Quan Thư.

Một đêm kia, Kiều Lan lại được hoa thần báo mộng cho biết tên từng người trong đời này họ gặp vốn là những nhân vật từng có quan hệ duyên nợ, oan trái với họ kiếp trước trong "Đoạn trường tân thanh". Hoa thần cũng cho Lan Nương biết kỳ hạn sum họp với Nguyên Sinh 15 năm kiếp này để đền bù 15 năm lưu lạc của Thuý Kiều kiếp trước nay đã hết, nàng sắp được trở lại làm ngọc nữ ở cõi tiên. Kiều Lan còn quyến luyến cõi trần hơn một năm mới rời đi hẳn. Có người ở Tuyên Quang gặp nàng đứng trên núi Hổ Nham, nhắn Nguyên Sinh rằng nàng đang chờ chàng trên đình Vọng Nguyệt.

Trong lịch sử văn học Phương Đông, việc viết tiếp tác phẩm là điều phổ biến. "Truyện Kiều" cũng là nguồn cảm hứng cho biết bao bài thơ của các nhà thơ Việt Nam. Tác phẩm hậu "Truyện Kiều" này đặc sắc ở chỗ các nhân vật được Việt hóa hoàn toàn và nơi xảy ra câu chuyện cũng là trên đất Việt Nam. Hơn nữa, tất cả các nhân vật đều được thông báo cụ thể trong tác phẩm là hậu thân của nhân vật nào trong "Truyện Kiều". Bản thân các nhân vật trong "Đào hoa mộng ký" cũng được thông báo cho biết điều này.

"Đào hoa mộng ký" là một tác phẩm viết tiếp, tác phẩm phái sinh, đồng thời cũng là một chuyện tình tài tử giai nhân vừa viết bằng văn xuôi chữ Hán, vừa viết bằng thơ lục bát chữ Nôm. Trong kho tàng văn học Việt Nam, số lượng các truyện thơ Nôm và truyện văn xuôi chữ Hán về giai nhân tài tử vốn không thật nhiều. Vì vậy, sự xuất hiện của "Đào hoa mộng ký" lại càng hiếm quý. Các tác giả "Đào hoa mộng ký" đã góp thêm vào kho tàng văn học Việt Nam một tác phẩm đặc sắc và giàu ý nghĩa!

Hà Thanh Vân

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).