Đạo diễn Roman Karmen và những thước phim quý về Hà nội

Roman Karmen (1906 - 1978) là một trong những nhà làm phim tài liệu vĩ đại nhất thế kỷ XX. Cuộc đời nghệ thuật của ông rất đa dạng trong các vai trò: Đạo diễn, biên kịch, quay phim, nhà báo, nhà sư phạm điện ảnh. Những thước phim tư liệu mà Karmen để lại thật sự là những thiên anh hùng ca huyền thoại.

Hình ảnh Hà Nội trong thời khắc lịch sử

Những ngày mùa thu lịch sử này, khi người dân trên khắp mọi miền đất nước đang hân hoan chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2014), trên sóng truyền hình, chúng ta xúc động được xem những hình ảnh tư liệu (màu) ghi lại thời khắc lịch sử của Thủ đô trong ngày tiếp quản tháng 10/1954. Tác giả của những thước phim vô cùng qúy báu về Hà Nội ấy là đạo diễn Xô viết kiệt xuất Roman Karmen.

Đạo diễn Roman Karmen cùng hai đồng sự Xôviết Evghenhi Mukhin và Vladimia Echurin được Nhà nước Liên Xô giao nhiệm vụ sang Việt Nam làm phim tài liệu vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ. Được sự chỉ dẫn của Bác Hồ, sự giúp đỡ tận tình của các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam, Karmen đã miệt mài lao động, hoàn thành xuất sắc bộ phim màu "Việt Nam" (1954) ghi lại những giây phút hào hùng nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm tháng hòa bình đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam.

Tháng 10/1954, từ chiến khu Việt Bắc, Roman Karmen về Hà Nội để chứng kiến giờ phút bộ đội ta tiếp quản Thủ đô. Theo lời kể của ông Lưu Phúc Thái, sĩ quan liên lạc dẫn đường cho đạo diễn Roman Karmen ở Hà Nội, đoàn làm phim đi trên 3 chiếc xe Commăngca, xuất phát từ làng Vòng lúc 5h30 sáng ngày 9/10, tiến vào trung tâm thành phố. Đường phố Hà Nội vắng vẻ, chỉ có những người lính Pháp chuẩn bị cho cuộc ra đi vĩnh viễn... Chợt Karmen muốn được quay cảnh bối rối của lính Pháp trước giờ rút khỏi Hà Nội nên đoàn làm phim tiến vào khu Cột Cờ, điểm không có trong kịch bản. Đến 16h30 cùng ngày, khi những chiếc xe cuối cùng của quân Pháp rút qua cầu Long Biên, Karmen quay cảnh nhân dân Hà Nội đổ ra đường với ngập tràn cờ hoa. Người người rộn ràng theo đoàn quân giải phóng tiến về Bờ Hồ. Đoàn xe của Karmen đi đầu, ông đứng trên xe, hiên ngang giữa rừng cờ hoa. Nhân dân reo hò và vị đạo diễn đã hướng ống kính máy quay ghi lại những hình ảnh cảm động ấy.

Sau bộ phim "Việt Nam", Karmen còn viết 2 cuốn sách về những kỷ niệm ở Việt Nam "Ánh sáng trong rừng sâu" (1957) và "Việt Nam chiến đấu" (1958) với nhiều câu chuyện hay và cảm động. Ông cho biết, hình ảnh đoàn quân giải phóng tiến vào tiếp quản Thủ đô trong sự chào đón nồng nhiệt của đông đảo người dân Hà Nội là cảnh quay đẹp. Ông đã chuẩn bị cho những cảnh quay này rất kỹ với một niềm ưu ái và cảm hứng vô bờ. Karmen viết: "Bảy tháng ở Việt Nam, thời gian trôi nhanh đến mức không kịp nhận ra những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh đã qua, những ngày hòa bình đầu tiên đã đến. Trong tôi không thể nào phai mờ được những kỷ niệm về các cuộc gặp gỡ với nhân dân Việt Nam, những trẻ em, bộ đội, du kích, những bộ trưởng, thầy giáo, công nhân, nông dân… Lần đầu tiên trong đời, tôi đến đất nước này và suốt đời tôi còn yêu mến nó".

Cảnh trong phim "Việt Nam" của đạo diễn Karmen.

Cảnh trong phim "Việt Nam" của đạo diễn Karmen.

Đối với nền điện ảnh cách mạng Việt Nam non trẻ, Karmen như người thầy, người anh, người bạn lớn. Bộ phim "Việt Nam" của ông đã để lại dấu ấn và những kinh nghiệm sâu sắc cho nền điện ảnh Việt Nam. Ngày 18-7-1955, đạo diễn Roman Karmen vinh dự được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.

Người viết sử bằng máy quay

Roman Lazarovic Karmen sinh ngày 16/11/1906 tại Odessa, một thành phố cảng biển thuộc Ukraine. Bố ông là nhà văn Lazaoximovich Karmen. Do hoạt động cách mạng, cụ bị bọn Bạch vệ bắt giam và bị chết trong tù. Mồ côi cha từ năm 14 tuổi, cậu bé Karmen và mẹ phải trải qua những năm tháng nặng nề, cực nhọc. Cậu vừa đi học, vừa bán báo, làm thợ phụ ngoài cảng giúp mẹ kiếm sống. Lúc rảnh rỗi, cậu mày mò tập chụp ảnh với niềm say mê lạ thường.

Năm 16 tuổi, Karmen trở thành phóng viên nhiếp ảnh cho Tạp chí "Ngọn lửa nhỏ" ở Moskva. Công việc cho phép cậu tiếp xúc với nhiều nhân vật và sự kiện tiêu biểu đồng thời giúp cậu hiểu sâu hơn về nhiếp ảnh. Karmen mơ ước được cầm máy quay phim, quay những hình ảnh động để phản ánh hiện thực đầy đủ hơn. Năm 1928, cậu nộp hồ sơ và thi đỗ vào Trường Điện ảnh Quốc gia Moskva. Tốt nghiệp năm 1932, cậu về công tác Xưởng phim Tài liệu Trung ương.

Ngay trong các phim đầu tay, Karmen đã bộc lộ một tư duy sáng tạo độc đáo với lối dựng phim rành mạch, giàu tính tạo hình, giải pháp kịch bản mới mẻ, ống kính luôn hướng sự chú ý vào con người, dù đó là cá nhân hay tập thể. Ở cậu nổi bật đức tính kiên trì, bền bỉ, lòng khát khao công việc. Karmen được đánh giá là nhà làm phim tài liệu năng động và đầy triển vọng.

Hoạt động nghệ thuật của Karmen được xác định bởi 2 tọa độ không gian chính: Tổ quốc Xôviết của ông và trên nhiều điểm nóng, nơi diễn ra các sự kiện lịch sử ở nhiều đất nước khác nhau. Năm 1934 - 1935, Karmen đến với những chiến sĩ của khởi nghĩa Quảng Châu và Nam Kinh (Trung Quốc). Năm 1936, Karmen có mặt ở Tây Ban Nha, quay những thước phim nóng bỏng về cuộc nội chiến ở đất nước này. Năm 1938, Karmen làm phim về cuộc kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc (phim "Trung Hoa trong chiến đấu"). Trở về quê hương, ông lại say sưa với đề tài xây dựng đất nước Xôviết. Khi phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô tháng 6/1941, Karmen thuộc số ít những nhà quay phim đầu tiên sát cánh cùng Hồng quân trên các chiến tuyến. Ông quay được nhiều hình ảnh chân thực về cuộc chiến đấu bảo vệ Leningrad, Moskva… Những cảnh phim ấy đã trở thành chất liệu cực kỳ qúy cho bộ phim "Thất bại của quân Đức ở ngoại ô Moskva" (1942 - đạo diễn L.Varlamova và I.Copalin). Phim đoạt giải Oscar và Giải thưởng Quốc gia năm 1943.

Roman Karmen là người đã đi suốt từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô, có mặt tại hầu hết các mặt trận quan trọng nhất, từ Moskva đến Berlin, hang ổ của chủ nghĩa phát xít. Ông đã quay được những thước phim vô giá như: bắt sống Thống chế Đức Paolut, cảnh thảm khốc ở trại tập trung Auschwitz (Ba Lan), hình ảnh những người lính Xôviết chiếm tòa nhà Quốc hội Đức ở Berlin, xét xử bọn trùm Quốc xã… Năm 1946, Karmen đạo diễn bộ phim "Tòa án của các dân tộc", một tác phẩm chính luận đặc sắc về tòa án quốc tế Nuremberrg xét xử tội phạm chiến tranh. Với giá trị tư liệu lịch sử to lớn, với tính nghệ thuật cao, đặc biệt là sự lý giải thuyết phục nguyên nhân của chiến tranh phát xít, bộ phim đã được tặng giải thưởng Quốc gia, được giới sử học điện ảnh Xôviết xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển về đề tài chống phát xít.

Trong những năm 50, 60 của thế kỷ trước, Roman Karmen lần lượt có mặt ở Việt Nam, Myanmar, Indonesia, Ấn Độ, Cuba… Nhiều sự kiện lịch sử, nhiều nhân vật quan trọng của thời đại (như Hồ Chí Minh, Fidel Castro, Che Guevara, Salvador Allende...) được Karmen quay vào phim nhựa và xây dựng thành các tác phẩm điện ảnh tài liệu có giá trị như: "Việt Nam" (1954), "Buổi sáng ở Ấn Độ" (1959), "Hòn đảo rực cháy", "Ngọn đèn màu xanh" (1961), "Người khách của hòn đảo Tự do" (1963), "Chile - Thời gian âu lo và tranh đấu" (1973)…

Đi nhiều, quay khỏe, Karmen để lại dấu chân in trên nhiều miền đất khắp các lục địa, song ông cũng không quên một đề tài quan trọng: Hiện thực lao động của con người Xôviết xây dựng đất nước. Ở đề tài này, Karmen cũng gặt hái thành công. Hai bộ phim tài liệu: "Chuyện về những người thợ dầu trên biển Caspi" (1953) và "Những người chinh phục biển cả" (1959) của ông vinh dự được nhận Giải thưởng Lênin năm 1960.

Roman Karmen qua đời ngày 28/4/1978 giữa lúc ông đang hoàn thiện những công việc cuối cùng cho bộ sử thi 20 tập "Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại" (được trình chiếu ở Mỹ dưới cái tên "Cuộc chiến tranh chưa được biết đến"). Thiên sử thi này đã chinh phục hàng trăm triệu lượt người xem trên toàn thế giới, đoạt nhiều giải thưởng lớn và đưa tên tuổi Roman Karmen lên hàng những nhà làm phim tài liệu vĩ đại nhất thế kỷ XX

Thu Hằng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.