Cuộc giải cứu đầu tiên bằng máy bay trực thăng

Bộ Tư lệnh các chiến dịch đặc biệt của lực lượng không quân Mỹ (AFSOC) ngày nay đã bắt đầu hình thành từ Thế chiến 2 trong các cánh rừng già của Miến Điện. Ở đó, Nhóm không biệt kích số 1 (ACG-1) mới nổi đã tiến hành một cuộc chiến tranh phi thường chống lại quân Nhật, thường là hoạt động sau phòng tuyến địch. ACG-1 là một kiểu lính bất cần đời, ngỗ ngược, không quan tâm đến việc đánh bóng đời sống quân ngũ, nhưng lại chiến đấu hết sức dũng cảm.

Sikorsky, trường đào tạo phi công trực thăng đầu tiên của Hoa Kỳ 

Năm 1943, khi Trung úy phi công Carter Harman và vài người khác nhận một nhiệm vụ bất thường cho nhà máy Sikorsky ở Stratford (tiểu bang Connecticut), chiếc máy bay mới toanh đó được gọi là “chim quay” hoặc “máy đánh trứng”.

87-1.jpg -0
Trung úy Carter Harman nhận nhiệm vụ làm việc cho nhà máy Sikorsky ở Connecticut. Nhưng sau đó ông học lái R-4 và bay nửa vòng trái đất đến Miến Điện để thực hiện vụ giải cứu. Ảnh nguồn: Robert F. Dorr Collection 

Carter Harman đã học lái một trong những cỗ máy mới gọi là YR-4B và sau đó đưa nó đi nửa vòng trái đất đến Miến Điện. Cơ hội của Không biệt kích là thử nghiệm một cỗ máy mới khi Trung sĩ kỹ thuật Ed Hladovcak (một phi công gan dạ được gọi bằng cái tên Murphy) đã bị rơi trong một chiếc máy bay liên lạc L-1 Vigilant cùng với 3 binh sĩ người Anh. Hladovcak và bộ ba binh sĩ Anh đã bay nhiều dặm ở xa phòng tuyến Nhật. Một chiếc máy bay liên lạc khác là chiếc L-5 Sentinel đã không thể hạ cánh trong địa hình cây rừng đan xen chằng chịt với ruộng nương. Carter Harman và cơ trưởng của anh là Trung sĩ Jim Phelan, đang cách Ấn Độ 500 dặm khi họ nhận được bức điện: “Gửi máy đánh trứng vào”.

Chiếc R-4 sẽ mang thêm vũ khí và chỉ chở duy nhất 1 người tại một thời điểm. Loại công việc này được chỉ huy bởi một viên đại tá có toàn quyền trình bày với Washington: Philip “Flip” Cochran.

Chuẩn bị cho chặng bay đến Miến Điện

“Murphy” và 3 đồng đội người Anh lăn lê bò trườn cho đến khi họ đã chui sâu vào cánh rừng già đại ngàn cách chiếc máy bay bị rơi nửa dặm đường. Suốt hàng tiếng, Murphy và những người lính Anh dõi mắt quan sát đám lính Nhật đang lùng sục xác chiếc L-1, canh gác vị trí rơi và rút lui. Vào giữa buổi chiều hôm đó, một chiếc máy bay liên lạc L-5 Sentinel của Không biệt kích đang bay quần thảo trên đầu và thả xuống một mảnh giấy, nội dung ngắn gọn “Di chuyển lên núi. Người Nhật gần đây”. Trong hầm hàng của chiếc L-1 bị rơi là 3 thanh kiếm gỗ Nhật (dùng cho nghi lễ) mà Murphy đã lấy nó từ chiến trường để làm kỷ niệm. Nếu người Nhật tìm thấy những thanh kiếm này trước và sau khi bắt giữ Hladovcak, sẽ có một địa ngục phải trả. Không giống với các lính Không biệt kích quanh mình, Carter Harman không phải là người dễ dàng ứng biến trước tình hình.

Cuộc giải cứu đầu tiên bằng máy bay trực thăng -0
Trung úy Carter Harman nhận nhiệm vụ làm việc cho nhà máy Sikorsky ở Connecticut. Nhưng sau đó ông học lái R-4 và bay nửa vòng trái đất đến Miến Điện để thực hiện vụ giải cứu. Ảnh nguồn: Robert F. Dorr Collection 

Sau chiến tranh, ông Harman nhớ lại: “Trước chiến tranh, tôi là một nhà báo. Tôi chuyên đưa bài về cho Thời báo New York. Khi chiến tranh khơi mào, tôi đã lái vài loại máy bay. Không thiết tha với bộ binh nên tôi đã gia nhập Lực lượng phòng không lục quân (AAC) và tới Texas. Tôi đang học bay hạng 43-C và sau khi có được những đôi cánh bạc, tôi trở thành hướng đạo sinh trong việc hướng dẫn lái máy bay 2 cánh”. Ông Harman về làm việc ở Stratford (Connecticut) gần nhà mình. Ông đến nhà máy Sikorsky ở Stratford để học lái trực thăng R-4. Thời điểm đó Không biệt kích yêu cầu lấy 3 chiếc trực thăng YR-4B chở nửa vòng trái đất trên các máy bay vận tải C-46 đến Miến Điện. Ông Harman kể: “Để chuẩn bị cho chặng bay dài ngày, các thợ máy của chúng tôi đã lắp ráp trực thăng dưới thời tiết nắng nóng và kiểm duyệt gắt gao ở Lalaghat (Ấn Độ)”.

Thật bi thảm, chuyến bay trực thăng đầu tiên ở Ấn Độ - YR-4B – diễn ra vào ngày 21-3-1944 đã bị rơi khiến 1 trong số 4 phi công bị thiệt mạng, cũng là người đầu tiên lái trực thăng Mỹ tử trận trong vùng chiến sự. Một trong số các phi công (vốn khan hiếm khi đó) đã bị thương trong lúc đang lái máy bay thông thường... Ngày 21-4-1944, ông chủ của Không biệt kích, Philip “Flip” Cochran, đã phát đi những chỉ thị vô tuyến cho Carter Harman để đưa một trực thăng đến Taro (Bắc Miến Điện). Taro cách Lalaghat 600 dặm, tức vượt xa 100 dặm trong phạm vi thông thường của trực thăng YR-4B.

Lên phương án giải cứu 

Cartel Harman nhớ lại: “Tôi đã chuẩn bị mọi thứ cho chuyến bay đầu tiên đến Taro, đồng nghĩa chuẩn bị tinh thần để vượt qua những đỉnh núi cao 1.524m, mà theo lý thuyết mà mức trần của YR-4B và điều hướng trực quan đến Dimapur. Tôi hạ cánh an toàn ở Dimapur và đổ đầy bình chứa nhiên liệu trước khi bắt đầu chặng bay thứ hai trực chỉ Jorhat, đó là căn cứ oanh tạc cơ nơi các đồng nghiệp của tôi đang lái những chiếc B-24 Liberators”. Harman nói rằng mình cảm thấy thoải mái khi lái một mình. Mất 24 tiếng đồng hồ mới tới được Taro. Harman kể: “Tới nơi là nghỉ xả hơi. Tôi nói với một trong những người lính ở đó là mình cần đi tắm suối, giặt đồ. Tôi vẫn đang mặc nguyên cái quần dài sau khi đã bay nửa vòng trái đất. Tại Taro, các thợ máy đã lắp một thùng nhiên liệu phụ mượn từ bụng chiếc trực thăng của tôi. Ở Aberdeen, đã xác định chính xác vị trí của trung sĩ kỹ thuật Ed Hladovcak. Không biệt kích có kế hoạch sử dụng YR-4B và chờ đón tôi”.

Một bức thông điệp điện tín của căn cứ ACG-1 ở Miến Điện (gọi tên là Aberdeen), đó là một đường băng tạm thời nằm sâu bên trong lãnh thổ Nhật Bản chiếm đóng. Căn cứ này là ngôi nhà của các máy bay liên lạc L-1 Vigilant và L-5 Sentinel được lái bởi các trung sĩ phi công như Ed “Murphy” Hladovcak dùng cho những mục đích cứu hộ hàng không. Thông qua L-1 hoặc L-5, những người sống sót được chở thẳng tới Aberdeen, tại đó họ lên một máy bay lớn hơn để sơ tán tới Ấn Độ. Tất cả đều được thực hiện bởi bàn tay của người Nhật. Thông điệp vỏn vẹn 4 chữ “Gửi máy đánh trứng ngay lập tức”. Điều đó có nghĩa là nhiệm vụ được thực thi từ Taro đến Aberdeen ở cách đó 125 dặm về hướng Nam, bỏ xa phạm vi bay tối thiểu của trực thăng YR-4B. Trên mặt đất, tâm trí Murphy đang hối hả chạy đua với suy nghĩ về việc có thể bị quân Nhật bắt giữ: “Ngày 24-4, những âm thanh kỳ lạ phát ra trên trời. Phải chăng có một vụ chạm súng? Bọn Nhật sẽ phản ứng ra sao với một lính Mỹ đói khát, mệt lử và 3 lính Anh bị thương đầy mình?”.

Cuộc giải cứu đầu tiên bằng máy bay trực thăng -0
Trực thăng Sikorsky YR-4B 43-28225 trong đường hầm gió NACA (Ủy ban cố vấn quốc gia về hàng không Mỹ) tại Langley Field (tiểu bang Virginia) năm 1944. Ảnh nguồn: NASA

Nhưng người Nhật không xuất hiện. Ngày hôm sau, tình hình 3 người lính Anh thêm xấu đi. Các vết thương bị nhiễm trùng. Trời nắng chang chang. Côn trùng khắp nơi nhất là muỗi mang theo một chủng gây sốt rét độc hại. Carter Harman hạ cánh trực thăng YR-4B tại căn cứ Không biệt kích ở Aberdeen vào buổi sáng ngày 25-4-1944. Ông biết được rằng 4 người lính do Murphy chỉ huy vẫn bình an vô sự. Những chiếc trực thăng L-5 Sentinel đang thả đồ tiếp tế và thông điệp cho Murphy khi nhắm vào một chiếc dù trắng mà người phi công thả xuống đồng lúa. Tuy nhiên chiếc dù đó có lẽ sẽ khiến Murphy bị lính Nhật phát giác. Một chiếc L-5 đã thả thông điệp cho Murphy nói về một địa điểm có máy bay liên lạc có thể cứu cả 4 người lính: một bãi cát trên con sông gần đó. Các biệt kích Anh đã bảo vệ một khu vực nhỏ bờ sông để tạo điều kiện cho những người bị thương rút êm. Tại Aberdeen, họ biết rằng không ai trong số 4 phi công có thể rút êm bằng sức riêng của mình. Tuy vậy họ tin rằng Harman có thể thu hẹp khoảng cách. Đó là một giải pháp đặc biệt, một kiểu ứng biến mà Không biệt kích và cả AFSOC luôn hoàn thành xuất sắc.

Cuộc giải cứu trực thăng đầu tiên

Carter Harman nhớ lại: “Tôi lo rằng động cơ 200 mã lực Warner thường sẽ không đủ mạnh để khởi động trực thăng YR-4B. Tôi cũng lo ngại không biết mình có đến được bãi đất trống đó không. Chiếc YR-4B của tôi sẽ chở họ đến bờ sông, nơi có những máy bay liên lạc chờ sẵn có thể rước họ đi. Kể từ khi đó tôi chỉ có thể chở 1 người/ lần bay mà thôi, do đó phải đi làm 4 chuyến. Mấy cái trực thăng hãy còn mới và chúng tôi biết là chúng không thích hợp thời tiết nắng nóng. YR-4B đặc biệt dễ bị tổn thương bởi bất kỳ loại súng nào. Tôi bay từ Aberdeen đến bãi cát ven bờ sông, nơi tôi gặp một chiếc L-5 Sentinel. Kế đó, chiếc L-5 dẫn tôi đến bãi đất trống nơi Murphy và 3 người lính Anh đang vật lộn sinh tồn. Tôi không thấy bất kỳ tên lính Nhật nào cả, nhưng biết rằng bọn chúng đang lảng vảng quanh đó. Rồi may sao tôi cũng đến đó trước, Murphy Hladovcak leo lên trực thăng. Lúc đó quân đội tràn ngập ngay bên dưới chúng tôi. Cuối cùng chiếc YR-4B phát huy hết công suất bay đi”.

Sau đó, Harman được kể lại là Murphy Hladovcak “phát điên” khi nhìn thấy “máy đánh trứng” bay tới vì anh ta chưa từng nhìn thấy trực thăng từ trước đó. Murphy dìu người lính Anh bị thương nặng nhất lên máy bay. Harman có thể đến bãi cát trống nơi có một máy bay liên lạc chở người lính Anh tới nơi an toàn. Các phi công liên lạc cảnh báo với Harman rằng có những trục trặc về thời tiết vào ngày hôm sau. Lúc tảng sáng, động cơ máy bay vang lên giòn giã và Harman đã có thể chở người lính Anh thứ 3 đưa đến nơi an toàn. Edward “Murphy” Hladovcak giờ đang đơn độc trong bãi đất trống trong rừng, ông ráng cầm cự, và Harman phải quay trở lại. Khi chiếc YR-4B áp sát Murphy Hladovcak, lính Nhật túa ra ở khoảng cách 304m, một số giơ cao súng trường. “Quá muộn rồi!”, Harman nghĩ thoáng qua. “Sau tất cả mọi thứ, trễ quá rồi”, Murphy Hladovcak hét lớn về phía bọn Nhật đang bắn mình.

Harman căng thẳng nhớ lại: “Tôi lao đến trước tiên. Murphy Hladovcak leo lên máy bay. Giờ đây rất đông người bên dưới chúng tôi, chiếc YR-4B căng mình vật lộn. Nó lại mất hút trong khu rừng. YR-4B lao vọt lên một cách thần tốc”. Harman chở Murphy đến Aberdeen. Ở đó họ được kể rằng đám binh lính bên dưới máy bay là Nhóm thâm nhập tầm xa (Chindit, các đơn vị hoạt động đặc biệt của Anh và Ấn Độ trong giai đoạn 1943-1944) đang có ý định giải cứu Murphy. Cuộc giải cứu trực thăng đầu tiên đã mở đầu cho ngành hàng không cánh quay. Carter Harman đã dành vài tuần với ACG-1 và tìm được một số người cần được giải cứu. Chiếc trực thăng R-4 cuối cùng bị hỏng không thể sửa chữa. Nhưng đầu năm 1945, một chiếc trực thăng khác đã thế vào. Nó thực hiện một hoạt động cứu hộ khác và đôi khi bị trích dẫn sai lầm là vụ giải cứu trực thăng đầu tiên trong lịch sử.

Ngày 16-1-1945, đại úy Frank Peterson đã lái một chiếc R-4 để sơ tán một nhà quan sát thời tiết bị thương là binh nhất Howard Ross từ một sườn núi cao 1.432m ở rặng Naga (Miến Điện). Đại úy Peterson bay cùng phi công Trung tá 1 Irvin Steiner. Đó là cuộc cứu hộ trực thăng thành công từ rất sớm, nhưng là nó diễn ra 8 tháng sau khi Carter Harman thực hiện chuyến bay cứu hộ đầu tiên, dọn đường cho các sứ mạng hoạt động trực thăng đặc biệt ngày hôm nay.

Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.