Cuộc đào thoát kinh hoàng ở trại Sobibor

Ngày 14-10-1943, một nhóm tù nhân Do Thái ở trại tập trung Sobibor nằm trên đất Ba Lan đã giết chết 11 người - vừa sĩ quan - vừa lính Đức Quốc xã canh giữ họ rồi kéo đổ hàng rào, mở đường cho gần 500 tù nhân khác chạy trốn mà nguyên nhân là trước đó, họ nhận được thông tin rằng ngày 15-10, Đức Quốc xã sẽ san bằng trại đồng thời tiêu diệt tất cả tù nhân nhằm che giấu tội ác diệt chủng.

Chỉ có 53 người sống sót sau cuộc đào thoát kinh hoàng này, và đây cũng là vụ nổi dậy phá trại tập trung bi thảm nhất trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2…

Bài 1: Đường đến cõi chết

Từ một lá thư…

Sáng 21-8-1943, sau khi kéo những hồi còi dài, một đoàn tàu hỏa dừng lại trước nhà ga Sobibor, thị trấn Chelm, Ba Lan. Trên sân ga, lính SS - là đơn vị đặc biệt tinh nhuệ của Đức Quốc xã, áo choàng xám, súng tiểu liên Sten trên tay, dàn hàng ngang chờ đợi. Sau lưng lính SS là 100 tù nhân cũng đang chờ đợi để làm công việc của mình.

Giây lát, cánh cửa từng toa xe nhả ra 2.000 con người, cả đàn ông lẫn đàn bà và trẻ con, mệt mỏi, tả tơi, lếch nhếch lôi theo những vali túi xách. Trước ngực áo và trên ống tay áo, ai cũng có một mảnh vải trắng hình ngôi sao 6 cạnh. Họ là người Do Thái ở Ba Lan, Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Hungary, Rumani, Tiệp Khắc, Ukraine…, bị lính Đức lùa vào các điểm tập trung rồi đưa lên tàu, đến trại Sobibor. Theo lệnh của trung tá Gustav Wagner, chỉ huy trại, hành lý của họ phải bỏ lại sân ga với lời hứa: “Khi tới chỗ ở mới, các bạn sẽ được giao trả đầy đủ”.

Trung tá Gustav Wagner và thiếu tá Erich Bauer, 2 hung thần ở trại Sobibor.

Trung tá Gustav Wagner và thiếu tá Erich Bauer, 2 hung thần ở trại Sobibor.

Sau vài phút, dòng người xếp thành hàng dài, lặng lẽ di chuyển theo lệnh của lính SS. Từ ga Sobibor về trại đường dài 3km và họ phải đi bộ trong lúc ở sân ga, 100 tù nhân xếp hành lý của họ lên những chiếc xe kéo. Lát nữa, tại nhà kho của trại, tù nhân sẽ lục tung những chiếc vali, túi xách ấy. Tất cả những thứ quý giá như dây chuyền, nhẫn, bông tai, vòng cổ, bằng bạc hoặc vàng, sẽ được nộp cho chỉ huy trại để nấu thành thỏi. Còn quần áo, giấy tờ tùy thân và những thứ linh tinh khác thì bị đốt hết.

Mất hơn 1 tiếng, 2.000 người mới về tới trại dưới những họng súng của lính SS. Ở giữa sân, trung tá trưởng trại Gustav Wagner đã đợi sẵn. .Ông ta nói: “Chào các bạn. Bắt đầu từ hôm nay, các bạn sẽ có một cuộc sống mới. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm cho sự an toàn của các bạn, đề phòng bệnh chấy rận, bệnh ghẻ, bệnh sốt phát ban và các loại bệnh có khả năng lây lan khác, các bạn sẽ được tắm rửa, khử trùng trước khi nhận nhà”.

Nói dứt lời, ông ta quay lưng đi về phía khu chỉ huy. Skollenn, một tù nhân may mắn sống sót kể: “Lính SS lần lượt hỏi một số đàn ông, đàn bà còn khỏe mạnh: “Trước kia làm nghề gì?” rồi sau đó, người được hỏi hoặc là đứng riêng một bên, hoặc vẫn đứng yên trong hàng”.

Trong số 2.000 người mới chuyển đến Sobibor, chỉ có 42 người ra đứng riêng. Họ là thợ may, thợ đóng giày, kim hoàn, cơ khí, thợ mộc, thợ xây dựng và thợ ống nước. Số còn lại bị bắt phải cởi hết quần áo, tháo đồng hồ, tháo kính rồi trần truồng bước vào “phòng tắm” số 1, 2, 3 mà thực chất là phòng hơi ngạt. Tất cả đều chết sau 10 phút “tắm rửa, khử trùng”.

Tại kho kiểm tra hành lý, khi tiến hành thu gom những đồ vật quý giá, một tù nhân là Rovka thấy một mảnh giấy viết tay trong túi một chiếc áo khoác. Đọc xong, Rovka nhanh chóng gấp nhỏ, nhét nó vào giày. Đến tối, mảnh giấy được chuyển cho Leon Feldhendler, người Ba Lan gốc Do Thái, lãnh đạo tù nhân trong trại.

Tù nhân Do Thái trên đường về trại Sobibor.

Tù nhân Do Thái trên đường về trại Sobibor.

Mảnh giấy viết: “Chào các bạn. Chúng tôi sắp được chuyển đến trại Sobibor và chắc chắn chúng tôi sẽ chết. Hôm qua, một người trong số chúng tôi nghe lỏm được câu chuyện giữa hai sĩ quan Đức, rằng sau vài đợt chuyển tù nữa, họ sẽ giết tất cả tù nhân ở Sobibor đồng thời phá hủy trại để xóa dấu vết. Ngày đó dự định là 15-10-1943. Các bạn bằng mọi cách, hãy cố gắng sống sót để tố cáo với thế giới về tội ác diệt chủng”.

Sau này, khi đã đào thoát khỏi trại Sobibor, Leon Feldhendler cho biết mặc dù mảnh giấy không ký tên nhưng ông tin rằng người viết nói thật bởi lẽ vài tuần trước đó, trưởng trại Gustav Wagner đã ra lệnh cho tù nhân gấp rút xây thêm 3 phòng hơi ngạt nữa. Leon Feldhendler nói: “Trại Sobibor trung bình giam giữ khoảng 2.000 người.

Trước tháng 9, cứ sau 1 tuần, 2.000 người ấy vào phòng hơi ngạt thì lập tức có 2.000 người khác được chuyển đến nhưng từ đầu tháng 9 cho tới ngày chúng tôi nổi dậy, lệnh của Gustav Wagner là cứ 4 ngày phải “làm vệ sinh” cho hết 2.000 người. Không đủ hơi ngạt, ông ta dùng những động cơ lớn chạy dầu diesel, ống khói nối thẳng vào phòng nên phải mất hơn nửa tiếng tù nhân mới chết”.

Sobibor – Trại của tử thần

Sau khi chiếm được các quốc gia Tây Âu như Pháp, Bỉ, Áo, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch…, cùng một số quốc gia Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư, Hungary, Ukraine…, bắt đầu từ năm 1940, theo lệnh Hitler, Đức Quốc xã đã tiến hành xây dựng 16 trại lao động cưỡng bức ở vùng Sobibor trên đất Ba Lan, trong đó có trại Sobibor, nằm cạnh tuyến đường sắt Chem - Wodawa nối với phía tây Ukraine, nơi đã bị quân Đức chiếm đóng. Nhân công gồm 95.000 người Do Thái bị bắt ở Warsaw, Ba Lan và Vienna, Áo.

Khởi đầu, ngoài việc xây dựng nhà cửa, tù nhân trong 16 trại này còn phải làm những công việc như may quần áo, đóng giày, sửa chữa máy móc, phục vụ cho quân đội Đức. Nhưng từ ngày 17-3-1943, trại Sobibor được Đức Quốc xã sử dụng để tiêu diệt người Do Thái bằng cách cho họ vào các phòng hơi ngạt rồi sau đó, xác họ bị đốt thành tro.

Nhà ga Sobibor, nơi mỗi chuyến xe lửa thả xuống 2.000 tù nhân Do Thái.
Nhà ga Sobibor, nơi mỗi chuyến xe lửa thả xuống 2.000 tù nhân Do Thái.

Leon Feldhendler kể: “Đầu tháng 9, các phòng hơi ngạt quá tải, trung sĩ SS Erich Fuchs ra lệnh cho tù nhân tháo động cơ công suất 200 mã lực của một chiếc xe tăng rồi cho xây một cái bệ lớn bằng bêtông. Động cơ xe tăng đặt trên bệ này, ống khói nối dài ra, đi thẳng vào một phòng kín diện tích 100m2. Sau khi lùa 600 tù nhân vào phòng, đóng chặt cửa, Erich Fuchs đích thân bật công tắc khởi động. Và vì công suất động cơ đã được chỉnh hết mức nên chỉ trong 30 phút, tất cả tù nhân đều chết do ngộ độc khí dioxit carbon. Lúc Fuchs ra lệnh cho chúng tôi mở cửa đưa xác sang lò thiêu, cả 600 thi thể vẫn đứng sát nhau vì không gian quá chật, chẳng còn chỗ để họ ngã xuống…”.

Vẫn theo Leon Feldhendler, đầu tháng 9-1943, trại Sobibor có 600 tù nhân, cả nam lẫn nữ, là thợ lành nghề được trung tá Gustav Wagner, chỉ huy trại “cho phép sống” để làm một số việc trong trại.

Leon Feldhendler nói: “Tù nhân nữ có nhiệm vụ cắt lấy tóc trên các tử thi nữ rồi kết thành từng cuộn. Tóc này sau đó gửi về Đức để làm áo chống đạn. Họ cũng bẻ răng vàng trong miệng tử thi, thu hồi những gọng kính bằng vàng hoặc bạc đồng thời tìm kiếm nữ trang giấu trong quần áo, số còn lại làm việc trong xưởng may. Tù nhân nam một số nấu chảy nữ trang, đúc thành từng thỏi, số khác làm ở xưởng đóng giày, xưởng cơ khí nhưng phần lớn vẫn là lấy xác chết ra khỏi các phòng hơi ngạt, chất lên những chiếc xe goòng, đẩy theo đường ray đến lò thiêu”.

Thiêu xong, tro cốt của họ được đổ xuống những chiếc hố dài 60m, rộng 15m, sâu 7m rồi lấp đất và trồng cây. Cho đến khi chiến tranh kết thúc, 250.000 tù nhân Do Thái đã bị giết ở trại Sobibor.

Âm mưu đào thoát

Ngày 18-9-1943, bên cạnh những chuyến xe lửa dồn dập chở người Do Thái thì còn có các đoàn tàu quân sự chở tù binh Liên Xô bị bắt trong những cuộc giao chiến đến trại Sobibor. Trong số này có trung úy Alexander Pechersky, người Nga gốc Do Thái.

Ngày 22-6-1941, Hitler xua quân xâm lược Liên Xô, Alexander Pechersky khi ấy 31 tuổi, tình nguyện gia nhập Hồng quân. Chỉ hơn 2 tháng sau, Pechersky một mình một súng, lao vào bắn hạ 4 lính Đức khi những tên này đã bắt sống được chỉ huy trung đội ông. Với hành động dũng cảm ấy, Pechersky được thăng hàm trung úy.

Cuối tháng 10-1941, trong một trận đánh ở ngoại ô Moscow, Pechersky bị lính Đức bắt. Tháng 5-1943, Pechersky cùng 4 người bạn đồng ngũ tổ chức trốn nhưng bị bắt lại. Sau đó ông được đưa đến trại tù binh Krechuk nằm ở một khu rừng gần thành phố Minsk. Khi kiểm tra sức khỏe, một y tá Đức Quốc xã phát hiện Pechersky đã cắt da quy đầu (là tập tục truyền thống của người Do Thái) nên hỏi ông: “Mày là Do Thái phải không?”.

Biết có chối cũng vô ích, Pechersky gật đầu. Lập tức, Pechersky bị đưa vào trại lao động khổ sai Minsk. Đến ngày 18-9, Pechersky cùng 2.000 tù binh khác đi trại Sobibor. 1.920 người trong số này bị đẩy vào phòng hơi ngạt ngay sau khi đến nơi. 80 người còn lại - trong đó có Pechersky được cho sống để làm việc.

Sự xuất hiện của nhóm tù binh Xôviết đã tạo ra ấn tượng rất lớn với các tù nhân ở Sobibor. Ngay buổi tối đầu tiên, Pechersky gặp Leon Feldhendler, người lãnh đạo tinh thần của tù nhân trong trại với sự phiên dịch của Solomon Leitman vì Leon không biết tiếng Nga còn Pechersky không nói được tiếng Ba Lan.

Về sau, khi đã đào thoát thành công, Pechersky kể: “Tôi ngồi trên đống gỗ, đối diện với Leon Feldhendler. Tôi hỏi anh ta về ngọn lửa lạ lùng đang cuồn cuộn bốc lên từ những ống khói cách chúng tôi khoảng 500m và về cái mùi rất khó chịu. Leon cho biết họ đang đốt xác những đồng đội tôi mới đến hồi trưa. Tôi không tin nhưng Leon vẫn tiếp tục nói, rằng mỗi ngày đều có 1 chuyến tàu chở 2.000 người mới, tất cả đều bị giết  trong vài giờ. Trại có hơn 500 tù nhân Ba Lan, Pháp, Đức, Hà Lan, Tiệp Khắc gốc Do Thái được cho sống để làm việc, và chúng tôi là những người Do Thái Nga đầu tiên vào đây…”.

Ngày thứ 3 sau khi đến trại Sobibor, Pechersky giành được sự kính trọng của tù nhân khi Pechersky nhận lời thách thức của trung úy Karl Frenzel, sĩ quan SS ở trại. Khi thấy một tù nhân bị Frenzel đánh bằng roi vì chậm chạp trong việc chẻ gỗ làm củi cho lò thiêu, Pechersky lên tiếng phản kháng. Đáp lại, Frenzel nói với Pechersky: “Nếu trong 5 phút, mày chẻ được khúc gỗ ấy ra làm đôi thì tao sẽ cho mày gói thuốc lá. Còn không, mày sẽ bị đánh 25 roi”.

Chỉ 4 phút rưỡi, Pechersky đã chẻ xong khúc gỗ. Nhận gói thuốc lá, Pechersky phân phát cho các tù nhân xung quanh vì “tôi không hút thuốc”. 20 phút sau, Frenzel quay lại, đưa cho Pechersky ổ bánh mì và một miếng bơ nhưng Pechersky lắc đầu: “Cám ơn ngài sĩ quan, khẩu phần của trại là đủ với tôi rồi” mặc dù phần ăn ở trại chỉ là súp loãng nấu với củ cải và muối. Sau này, khi đã thoát khỏi Sobibor, Leon Feldhendler nói: “Với những chuyện ấy, tôi lập tức nhận ra Pechersky là người có thể cùng tôi thực hiện kế hoạch phá trại…”.

Vũ Cao (theo History)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.