Cổ phục Việt Nam: Con đường vạn dặm

Dù những nghiên cứu và nỗ lực phục dựng trang phục cổ Việt Nam đã rộ lên từ khoảng chục năm trước nhưng khái niệm “Việt phục” mới chỉ thực sự được nhắc đến trong khoảng vài năm trở lại đây. Rất rõ ràng, những người đặt ra khái niệm này muốn cổ phục Việt Nam từng bước đứng ngang hàng với Hán phục (Hanfu) của Trung Quốc, Hàn phục (Hanbok) của Hàn Quốc và Hòa phục (Wafuku hay Kimono) của Nhật Bản.

Có thể nói, khái niệm “Việt phục” tương đối gắn liền với phong trào cổ phục ở Việt Nam, một phong trào mới manh nha vài năm nay, mang tính kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm và hoạt động cộng đồng.

Phong trào Việt phục - một bước khởi đầu đẹp

Trở lại với lịch sử, chắc nhiều người còn nhớ một sự kiện mang tính bước ngoặt của nghiên cứu cổ sử Việt Nam nói chung, nghiên cứu trang phục cổ nói riêng, đó là đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2010. Tại sao một cuộc đại lễ lại có tính bước ngoặt đến vậy? Đó là vì để kỉ niệm đại lễ, tất yếu phải có những sản phẩm văn hóa dành cho đại lễ đó. Cổ sử bỗng chốc không còn là mối quan tâm của nhóm nhỏ những nhà nghiên cứu và những người yêu thích lịch sử nữa, mà trở thành mối quan tâm chung của nhiều tầng lớp, đặc biệt là giới hoạt động nghệ thuật.

Nói cụ thể hơn, muốn làm phim, làm truyện tranh về thời xưa, buộc phải nghiên cứu những chi tiết “đời sống” như kiến trúc, phục trang, ẩm thực, phong tục cộng đồng... chứ không thể chỉ là những diễn biến lớn trong dòng chảy lịch sử được nữa.

Còn riêng về lịch sử trang phục Việt Nam, có một cuốn sách rất quan trọng đã ra đời: cuốn “Ngàn năm áo mũ” của tác giả Trần Quang Đức. Trước kia không phải là không có những nghiên cứu riêng lẻ về cổ phục Việt nhưng cuốn sách này là tác phẩm đầu tiên hệ thống hóa được đường hướng phát triển của cổ phục Việt Nam, cho dù còn những chỗ thiếu hoàn bị thì cũng không thể phủ nhận rằng đây là tác phẩm mang tính gợi mở cực lớn cho phong trào Việt phục sau này.

Giao lĩnh và phi phong (áo khoác ngoài) của phụ nữ thời Lê.
Giao lĩnh và phi phong (áo khoác ngoài) của phụ nữ thời Lê.

Đến nay, sau 10 năm, điều đáng mừng là phong trào tìm lại cổ sử, trong đó có phong trào phục dựng cổ phục không những không nguội đi, mà còn đang phát triển tốt, những tranh luận hiện nay cũng đã có chất lượng hơn rất nhiều những cuộc tranh luận của chục năm về trước. một số lầm tưởng đã dần được xóa bỏ và phong trào cũng đã thể hiện ra ở những hình thức cụ thể, trực quan hơn là những tranh luận “suông”.

Còn nhớ chục năm về trước vẫn có những bài viết mang nặng tính chủ quan và nhầm lẫn về thời kì của các loại trang phục, như nhất quyết cho rằng trang phục cổ nước ta có ống tay hẹp (mà thực ra ống hẹp và ống rộng đều tồn tại song song, trong nhiều thế kỉ, tới tận cuối đời Nguyễn vẫn có áo tấc ống tay rộng), hay vua thời Lý mặc áo... đỏ; hoặc cho rằng người Việt xưa không có loại áo giao lĩnh tay hẹp và quần xỏ ống làm đồ lót mà chỉ có đóng khố (bài viết còn phê phán một bộ phim truyền hình là “nhái theo Trung Quốc” chỉ vì xuất hiện bộ áo quần lót trong đó - mà thực tế thì không phải như vậy).

Vài năm trở lại đây, những công việc hướng về cổ phục không chỉ còn là trên giấy tờ, hay hạn chế trong những đoàn làm phim mà đã dần lan tỏa trong giới trẻ. Hiện có không ít những công ty hay nhóm nghiên cứu đang tiến hành phục dựng cổ phục, bao gồm vẽ lại và may lại. Những công việc trực quan này mang lại một bước chuyển rất lớn: cổ phục Việt Nam ngày càng gần gũi với “thường dân” - những người không nghiên cứu sâu về lịch sử.

Ngày nay ta có thể bắt gặp những clip ca nhạc dàn dựng bối cảnh cổ đại, đám cưới có chú rể mặc áo tấc, những điệu nhảy trên phố của cô gái mặc áo nhật bình, hay các bạn trẻ mặc bổ phục đi chụp ảnh trên phố đi bộ hồ Gươm, thậm chí có cả các em học sinh phổ thông chụp ảnh kỉ yếu với trang phục thời Nguyễn. Việt phục thực sự đã bắt đầu quá trình len lỏi vào các góc đời sống, giúp mọi người dân có nhận thức rộng hơn về cổ phục.

Con đường không chỉ có hoa hồng

Một phong trào văn hóa, dẫu đã có chỗ dựa vững chắc là trầm tích văn hóa hàng ngàn năm thì vẫn tất yếu phải trải qua những vấp váp, khó khăn, thậm chí là nguy cơ chệch hướng.

Một câu hỏi mang tính lựa chọn được đặt ra là, nên cố gắng hoàn nguyên Việt phục, hay cố gắng cách tân để đưa Việt phục vào cuộc sống hằng ngày? Ở Việt Nam đâu đó cũng đã bắt đầu xuất hiện những cửa hàng may cổ phục cách tân với giá cả phải chăng, mặt tốt là khiến cổ phục trở nên gần gũi hơn, dễ ứng dụng trong cuộc sống hơn nhưng đồng thời cũng có nguy cơ làm sai lệch nhận thức về văn hóa phục trang truyền thống của nước ta. Chính người viết đã từng tìm hiểu thử một vài mặt hàng và phát hiện ra người sản xuất dùng vải có hoa văn đặc trưng của... Nhật để may riềm cổ áo giao lĩnh. Có thể thông cảm phần nào vì rất khó tìm được vải chuẩn hoa văn Việt Nam (và giá thành không rẻ) nhưng rõ ràng đây là việc làm không nên được khuyến khích.

Phục dựng áo giao lĩnh phổ biến thời Lê trở về trước; Áo tấc thời Nguyễn.
Phục dựng áo giao lĩnh phổ biến thời Lê trở về trước; Áo tấc thời Nguyễn.

Vậy phải chăng chỉ nên hoàn nguyên mà không nên cách tân? E rằng như vậy cũng quá cứng nhắc và có phần làm giảm hiệu quả, nếu xét trên tác dụng thúc đẩy giới trẻ tìm hiểu văn hóa truyền thống. Việc đưa những yếu tố Việt phục vào trang phục hiện đại vẫn là việc nên làm, để tất cả mọi người dần dần không còn cảm thấy xa lạ với những hoa văn họa tiết truyền thống, hay những chi tiết như bổ tử, cổ giao lĩnh... Nhưng việc này rất cần có nền tảng, nền tảng đó chính là việc cố gắng hoàn nguyên trang phục cổ đến hết mức có thể. Bởi chỉ khi những nghiên cứu về trang phục cổ đã đầy đủ về chi tiết, nhà sản xuất mới có thể chọn lựa được những chi tiết cần thiết theo yêu cầu để đưa vào trang phục cách tân, nếu không, rất có thể ta sẽ còn phải nhìn nhiều chiếc áo nhật bình thời Nguyễn với họa tiết của Nhật khác.

Một vấn đề nữa là, phục dựng Việt phục thời kì nào? Tưởng chừng câu trả lời rất đơn giản: chẳng phải là cứ nghiên cứu được thời kì nào thì ta phục dựng hết là được hay sao? Nhưng, sự việc không đơn giản. Đến giờ, lượng Việt phục được phục dựng nhiều nhất vẫn là trang phục thời Nguyễn, đặc biệt là áo nhật bình. Lí do về mặt kĩ thuật là tư liệu thời kì này còn rất nhiều, thậm chí là nhiều hiện vật để nghiên cứu, nên việc tìm hiểu không quá khó khăn. Nhưng, còn một lí do tế nhị hơn nữa, đó là tâm lí e ngại... không thuần Việt.

Trang phục thời Lê Sơ đã từng được nhóm Vietnam Centre nghiên cứu phục dựng, thậm chí gần đây đã cho ra mắt cuốn sách “Dệt nên triều đại”, trong đó có nhiều bộ được phục dựng công phu và trình bày ngắn gọn những bước khảo cứu trang phục nữa. Nhưng, dù vậy, trang phục Lê Sơ vẫn ít được phổ biến, lí do bởi nhiều người cho rằng nó tương đối giống trang phục đời Minh (và giống Triều Tiên, vì Triều Tiên cũng mô phỏng trang phục thời Minh), ít có tính đặc thù.

Trang phục thời kì sớm hơn cũng vậy, nhìn qua khó phân biệt được với Trung Hoa. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, không có bất kì một nền văn hóa nào là “thuần túy” và không vay mượn bên ngoài, bao gồm văn hóa Trung Hoa. Hơn nữa, có những thứ trang phục rất phổ biến ở Đông Á, như áo giao lĩnh (hai vạt chéo nhau), kimono hay hanbok thực chất cũng đều là giao lĩnh, đó là sự thật lịch sử không thể chối bỏ.

Triều phục đời Lý được mô tả với “phương tâm khúc lĩnh” cũng là mô phỏng quy chế thời Tống. Không chỉ trang phục, mà chế độ thi cử, quan lại, một số ngày lễ tết dân gian... cũng đều chịu ảnh hưởng từ văn hóa bên ngoài nhưng khi đã hiện diện trong đời sống của cư dân Việt Nam thì nó chính là một phần của văn hóa Việt.

Có một điều mà những người có lòng muốn phục dựng cổ phục cần suy nghĩ thêm, đó là cổ phục không thể lẻ loi, nó còn cần gắn với những yếu tố văn hóa khác nữa. Có thể nhìn sang tuần văn hóa Hán phục, một hoạt động thường niên bắt đầu từ năm 2013 của Trung Quốc, diễn ra ở cổ trấn Tây Đường (tỉnh Chiết Giang). Trong tuần văn hóa Hán phục, cái được trình hiện không chỉ có trang phục mà còn có những yếu tố văn hóa liên quan khác, như tái hiện lễ cưới xưa, tái hiện nghi thức thiết triều, trình diễn âm nhạc, võ thuật truyền thống...

Tóm lại, là đặt cổ phục trong bối cảnh “cổ”, không chỉ phục dựng trang phục mà còn cố gắng tái hiện cả bối cảnh văn hóa rộng lớn hơn, để những người đến tham quan hình dung được về cuộc sống thực sự của những bộ trang phục đó. Dù một số nhóm bạn trẻ ở Việt Nam cũng đã cố gắng làm công việc đó một cách công phu nhất có thể nhưng nhìn tổng thể phong trào thì có lẽ sẽ còn rất nhiều việc phải làm.

Vĩ thanh

Một phong trào bất kì, để chuyển từ “tự phát” sang “tự giác”, đều cần một đường hướng, một kim chỉ nam. Ngày nay, điều kiện để học tập, nghiên cứu và phục dựng đã nhiều hơn hẳn thời kì trước, phong trào Việt phục nói riêng và phong trào nghiên cứu lịch sử đời sống nói chung đều rất có triển vọng để phát triển mạnh mẽ. Nhưng, số lượng nghiên cứu nền tảng cho phòng trào vẫn đang ở một con số khiêm tốn. Hãy thử nhìn thị trường sách: trong vài năm gần đây những sách liên quan đến lịch sử được xuất bản nhiều nhưng chuyên khảo lịch sử thì dường như đếm trên đầu ngón tay.

Nhìn lướt qua gian hàng sách lịch sử, những tác phẩm dịch từ tiếng nước ngoài vẫn chiếm số lượng lớn, trong đó không phải cuốn nào cũng thực sự đảm bảo về tính chính xác (như các cuốn bút kí của phương Tây, có khá nhiều sai sót khi ghi chép). Số lượng chuyên khảo sâu về một vấn đề vẫn còn ít ỏi. Qua một phong trào “học sử” (chứ không phải “sử học”) đang từng bước phát triển có thể thấy, đã đến lúc chúng ta cần đặt câu hỏi lớn hơn: tác phẩm nghiên cứu của các nhà sử học đâu rồi?

Lê Huy Hoàng

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.