Có những buổi chiều không biết cất vào đâu

Biết thơ Thi Hoàng đã lâu, nhưng phải hơn hai mươi năm sau, tôi mới gặp được ông. Thời điểm này diễn ra vào cuối năm 2000. Lần ấy, tôi cùng nhà thơ Trần Quốc Thực, Vương Tâm làm một chuyến đi Hải Phòng, chủ động tìm gặp ông ở xóm Đình, làng Chùa (Hải Phòng). Tôi nhớ mãi cách xử sự “rất vào” của Thi Hoàng. Ra về, tôi cứ ấn tượng mãi về ông và cái “không gian đồ cổ” cũng là “không gian viết” như là cảnh giới của riêng ông...

1.Trong các nhà thơ thời chống Mỹ, tôi là người rất nhớ những câu thơ gây ấn tượng mạnh của Thi Hoàng. Cứ nhắm mắt lại là tôi có thể đọc được thơ ông. Chẳng hạn: “Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc/ Trời thì xanh như rút ruột mà xanh”. Chẳng hạn: “Ở đời cái lưng tin hơn cái mặt”. Chẳng hạn: “Cứ nghĩ trẻ con là tài nhất/ Làm được buổi chiều rất giống ban mai”. Chẳng hạn: “Có chất lượng nào hơn chất lượng người/ Sao người tốt lại thường khổ vậy”. Chẳng hạn: “Có những buổi chiều không biết cất vào đâu…”.

Những câu thơ ấy “nói” với tôi nhiều lắm, có giá trị tâm sự, chia sẻ, nâng vực con người nhiều lắm.

Riêng hai câu: “Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc/ Trời thì xanh như rút ruột mà xanh” được trích từ "Ở giữa cây và nền trời" in trong tập "Cửa sóng", lần đầu tiên tôi được nhà thơ Phạm Tiến Duật trực tiếp đọc cho nghe vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước.

Khi ấy, nhà thơ còn đang phụ trách phần thơ của tuần báo Văn nghệ. Phạm Tiến Duật bảo: Đấy là những câu thơ hạng nhất. Tất nhiên, thi sĩ của Trường Sơn không chỉ đọc hai câu thơ trên, mà còn đọc một số câu thơ của một số nhà thơ khác nữa, trong đó có một câu của thi sĩ họ Chế: “Anh nhớ em như đông về nhớ rét”. Và theo ông, đó là những cái đinh đóng vào trí nhớ của người đọc.

Có lẽ thơ khác văn xuôi ở điểm này. Văn xuôi hay, thường được tổng thể, toàn cục và đứng được nhờ tổng thể, toàn cục. Còn thơ hay, phần lớn được ở chi tiết và đứng được nhờ chi tiết. Nói cách khác: Một câu thơ hay lắm khi có thể đứng như một đơn vị độc lập không phụ thuộc nhiều lắm vào bài thơ. Hãy thử hình dung nếu “Mặt nạ kẻ ác” của B. Becht không có câu: “Làm kẻ ác khó nhọc vô cùng”, “Bài thơ về Santiago” của P. Neruda không có hai câu: “Không thể nói về Santiago mà không có tôi trong ấy/ Nhưng không thể nói về mình mà không có Santiago”,  “Đồng chí” của Chính Hữu không có câu “Đầu súng trăng treo”, “Đèo Ngang” của Phạm Tiến Duật không có hai câu: “Bao nhiêu người làm thơ đèo Ngang/ Mà quên mất con đèo chạy dọc”; “Paris có gì lạ không em?” của Nguyên Sa không có hai câu: “Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm/ Chả biết tay ai làm lá sen…”.

Biết thơ Thi Hoàng đã lâu, nhưng phải hơn hai mươi năm sau, tôi mới gặp được ông. Thời điểm này diễn ra vào cuối năm 2000. Lần ấy, tôi cùng nhà thơ Trần Quốc Thực, Vương Tâm làm một chuyến đi Hải Phòng, chủ động tìm gặp ông ở xóm Đình, làng Chùa (Hải Phòng). Tôi nhớ mãi cách xử sự “rất vào” của Thi Hoàng. Ra về, tôi cứ ấn tượng mãi về ông và cái “không gian đồ cổ” cũng là “không gian viết” như là cảnh giới của riêng ông.

Nhà thơ Thi Hoàng.
Nhà thơ Thi Hoàng.

Với tôi, “thu hoạch” lớn nhất của cả chuyến đi là một bài thơ có cái tên thật giản dị: “Thăm nhà Thi Hoàng”. Tôi coi đây là cái được lớn nhất của mình. Sau đó, “Thăm nhà Thi Hoàng” được in trong tập thơ Đời sống năm 2002. Đây là nguyên văn bài thơ:

Đón tôi bằng tiếng sủa
Con chó nhà Thi Hoàng
Đón tôi bằng hoa đỏ
Dâm bụt nhà Thi Hoàng
Đón tôi bằng sóng vỗ
Đại dương nhà Thi Hoàng
Làng Chùa, gió hoang mang
Xóm Đình, mưa ngây dại
Con nghê đá ngồi đấy
Trải gấp bao đời người
Nước mắt vẫn chảy xuôi
Như ngày vừa sáng thế.

2. Bài thơ Thi Hoàng đăng đầu tiên trên Báo Văn nghệ có tên là “Tiếng xe đêm”. Bài thơ này viết về công nhân và công nhân viên nói chung. Nói theo Thi Hoàng thì “rất có không khí thợ”. Hồi ấy, ông đang là cán bộ kỹ thuật trình độ trung cấp của Sở Giao thông vận tải Hải Phòng.

Trước 1975, Nhà xuất bản Tác phẩm mới có ấn hành “Cửa sóng”, là tập thơ in chung của ba tác giả người Hải Phòng: Thi Hoàng, Thanh Tùng và Nguyễn Tùng Linh. Hồi ấy, với sự cầm chịch, thẩm định thơ khách quan và khắt khe của một số cây đa cây đề, trong đó có Chế Lan Viên, mà được “trình làng” ở cỡ đó, cũng là oách lắm rồi và không chừng còn gây tiếng vang nữa.

Thi Hoàng nhớ lại: “Hồi ấy, nhóm thơ của chúng tôi có Hoàng Hưng, Trịnh Hoài Giang, Trúc Chi. Còn ở đất Cảng này, số người làm thơ và yêu thơ cũng đông lắm. Mừng là cái “khí quyển sáng tác” hồi ấy nó mạnh lắm, có sự kích hoạt và hấp dẫn lẫn nhau trong đám bạn viết. Hễ ai làm được câu thơ nào, bài thơ nào là tìm nhau ngay để đọc cho nhau nghe. Chứ đâu có như bây giờ!”.

Về thơ và tính cách của những người làm thơ cùng thế hệ hoặc thế hệ “vong niên”, ông nhận xét: Hoàng Hưng thì lý tính và thấm đẫm văn hóa, Thanh Tùng thì hồn vía, Trinh Đường thì say mê đến mức dại khờ, Chế Lan Viên thì đầy ý tưởng nhưng khó gần, Xuân Diệu thì “tốn hồn” lắm (chữ dùng của Xuân Diệu và theo Xuân Diệu thì làm thơ, đặc biệt là làm thơ hay, thường rất “tốn hồn”)… Riêng Nguyên Hồng – người mà lúc nào Thi Hoàng cũng coi như người cha tinh thần của mình, Thi Hoàng nhận xét kỹ hơn: “Ông tốt tính, thương người lắm. Cho dù rất nghèo nhưng ông rất hay chia sẻ vật chất với mọi người và gọi đó là những lần “giải khượt” (chữ dùng của Nguyên Hồng).

Nói về mình và thơ mình, Thi Hoàng gần như là tâm sự: “Người viết rất cần có kiến văn, sự từng trải, giao lưu. Tôi cứ hồn nhiên, máu mê mà viết, không kỳ vọng danh tiếng, cố gắng tìm ra độ ăn nhập giữa tâm hồn cá nhân và lý tưởng của thời đại. Nếu Thanh Tùng hồn vía, Hoàng Hưng lý tính thì tôi ở khoảng giữa và bao giờ run rẩy thì viết. Làm thơ, tránh nhất là làm dáng và quá quan trọng việc mình làm”.

Thi Hoàng tâm sự tiếp: “Tôi làm thơ có nghề, có thể viết được nhiều kiểu. Nhưng nhiều khi tôi nghĩ: Lạ thì lạ lắm nhưng lạ để khó tiếp cận, để không chia sẻ được thì lạ để làm gì!”.

Khi tôi nhận xét: “Thơ anh cứ bao giờ giản dị thì sâu sắc, dường như đây là một sự giản dị khó làm” thì Thi Hoàng cười. Ông bảo: “Trong sáng tác, giản dị = kiến văn đạt tới một độ nào đấy + sự trải nghiệm đạt tới một độ nào đấy + tay nghề. Nhưng cần phân biệt: Giản dị rất khác với đơn giản”.

Tôi hỏi: “Lấy bút danh là Thi Hoàng. Nhiều người nghĩ, nghĩa của nó là “vua thơ”?”. Thi Hoàng cười cười: “Không phải. Chỉ có nghĩa thuần túy là người họ Hoàng làm thơ thôi! Tên khai sinh của mình là Hoàng Văn Bộ mà!”

Với tôi, ông là một kho kiến thức về nghề thơ. Ông rất hay dùng hai từ “lý cố” để cắt nghĩa sự tồn tại của một bài thơ, một tập thơ, một dòng thơ. Ông nói về nghề thơ cũng thật giản dị và sâu sắc: “Thơ dẫu có đặc như một khối thủy tinh thì cũng rất có một kẽ hở dù mỏng như lưỡi dao cạo để người đọc có chỗ mà lách vào; làm thơ, nói một cách đơn giản nhất, như kiểu chế biến một món ăn, một khi đã không có nguyên liệu (thịt lợn chẳng hạn) thì đừng nói gì đến việc chế ra các món luộc, món nướng, món xào… mà làm gì; khi làm thơ, người làm thơ phải có sẵn một cách nói, chứ không phải loay hoay tìm cách nói; ở mỗi tác giả, thơ rất cần sự đột biến”…

Thi Hoàng là lính trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1971 ở mặt trận B2 (Quảng Trị và giáp ranh Lào). Ấy là thời kỳ ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Một lần, “dính” bom B52, ông phải vào nằm ở một trạm quân y dã chiến ở Khăm Muộn (Lào). Rồi ông bị thất lạc đơn vị và đương nhiên, hậu quả kèm theo là thất lạc hồ sơ. Khi xuất viện, một cô y tá hỏi: “Anh cấp bậc gì?”. Thi Hoàng hồn nhiên, thành thật trả lời: “Chỉ binh nhì thôi!”. Cô y tá cười: “Vậy thì em “phong” cho anh là binh nhất. Cũng chẳng ghê gớm gì, chẳng qua để có suất thâm niên”. Kể đến đây, Thi Hoàng bật cười: “Mình lên binh nhất là nhờ một em y tá đấy chứ! Sau này ra quân, cấp bậc vẫn chỉ có thế!”.

Năm 1971, ông trở về địa phương, công tác ở Sở Văn hóa – Thông tin Hải Phòng, rồi đến năm 1975 thì chuyển sang Hội VHNT Hải Phòng. Ông bảo: “Mình là kẻ sĩ, không thích hợp làm quản lý. Vậy mà không hiểu sao, cho dù chỉ thuộc diện “bạch đinh” mà có lúc cũng leo lên được chức Phó tổng biên tập Tạp chí Cửa biển.

Về chuyện yêu đương của vợ chồng Thi Hoàng thì thật đơn giản. Đến tận năm 45 – 46 tuổi, ông vẫn thích vuốt ve cái sự cô đơn của mình. Đến năm 47 tuổi, ông “cưới vợ liền tay”. Vợ ông là con một người bạn của một người bạn ông. Hai người gần như “đồng vai phải lứa” về mặt tuổi tác. Cho nên, phải đến mấy năm, ông mới sử dụng đúng đại từ nhân xưng giữa con rể và bố vợ. Cũng không biết có phải vì thế không, mà thơ tình của Thi Hoàng thường đượm màu và mùi lý tính: “Anh gọi em từ bùn lầy cho đến nhụy sen/ Gọi em trong lần vỏ cây sau mưa còn thấm nước/ Trong tiếng kèn đưa đám ma tiễn đưa người đã chết/ Tiếng kèn như những ngón tay khốn cùng sờ soạng trái tim anh/ Trong tiếng côn trùng êm ả mượt như nhung/ Trong chiếc giày bỏ lại bên đường sau cuộc chiến/ Anh đứng trên mũi dao của những người lương thiện/ Mà gọi em, em hỡi ở phương nào?”.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.