Cố nhạc sĩ Đinh Quang Hợp - Giản dị và chân tình

Vào những năm cuối thập niên 60 - đầu 70 của thế kỷ trước, có một bài hát rất được công chúng ưa thích. Hầu như ở đâu người ta cũng hát. Những chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh thì luôn vang lên bài này. Đó là bài “Tiếng hát sông Lam” của Đinh Quang Hợp: “Ơ!  Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh. Thuyền em lên thác xuống ghềnh. Nước non là nghĩa là tình ai ơi...”.

Mấy câu mở đầu trên đã cho thấy rõ cái phong vị dân gian của bài hát. Điều đặc biệt thú vị là tuy bài hát viết về quê hương Nghệ An mà công chúng ở khắp nơi đều ưa thích. Chỉ vì bài hát hay, nghe thấy thú vị và hát thì rất “đã” chứ người ta không mấy bận tâm đến tác giả viết về vùng đất nào. Có những hội diễn văn nghệ được tổ chức không phải ở Nghệ An, các bạn diễn viễn vẫn đưa lên sân khấu bài này.

Cái tên Đinh Quang Hợp đối với số đông công chúng có thể chưa thấy quen như nhiều tên tuổi nhạc sĩ khác nhưng quả là bài này thì ít người thấy xa lạ. Nhắc đến những ca khúc hay nhất trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1964 -1975), không thể không nhắc đến bài này.

untitled-2.jpg -0
Cố nhạc sĩ Đinh Quang Hợp.

Về sự ra đời ca khúc nổi tiếng này, có lần Đinh Quang Hợp kể với tôi: Năm 1966, khi đang giảng dạy ở Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) ông cùng một nhóm nhạc sĩ đi thực tế ở khu 4. Lúc này, nơi đây, chiến tranh đã rất ác liệt. Đinh Quang Hợp chứng kiến cảnh giặc Mỹ ném bom tàn phá ruộng đồng, làng mạc và tinh thần chiến đấu chống trả quân thù của quân dân Nghệ An rất ngoan cường. Những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên đã bị bắn rơi. Rất nhanh chóng, ông cho ra đời bài hát với âm hưởng lạc quan, dạt dào khí thế chiến thắng.

Nghệ sĩ Sông Thao khi ấy làm việc ở Đoàn Ca múa Nghệ An đã được tác giả mời hát lần đầu tiên ca khúc này. Sau đó, khi trở ra Hà Nội, ông đem tác phẩm đến Đài Tiếng nói Việt Nam và được ca sĩ Tường Vi thể hiện lại trên làn sóng. Chỉ sau một vài lần phát, bài hát đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của thính giả. Rất nhiều thư từ khắp nơi gửi về Đài yêu cầu phát lại trong chương trình ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

Chuyện rằng có lần Bác Hồ đón tiếp một phái đoàn khách quốc tế, Người cho mời Tường Vi đến hát chiêu đãi khách. Chị đã hát bài này khiến Bác rất xúc động. Người nói với khách: “Bài hát này nói về quê tôi đó. Ở quê tôi, không nói là “nước” mà là “nác”, nhưng để cho phổ thông, dễ hiểu, tác giả đã dùng từ “nước””. Người cũng hỏi Tường Vi quê ở đâu mà hát bài về Nghệ An hay vậy, cứ như chính người quê ở đây hát. Khi chị cho Bác biết mình quê ở Tam Kỳ (Quảng Nam) chứ không ở Nghệ - Tĩnh thì Bác rất khen, nói rằng “Cháu đã ngấm được chất dân ca vùng Nghệ An nên hát rất hay, ra đúng chất vùng này”. Sau sự việc này, bài hát lại càng được Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng nhiều và vì vậy mà sức lan tỏa lại càng mạnh hơn.

Nghe bài hát trên, nhiều người nghĩ Đinh Quang Hợp có quê ở Nghệ An. Nhưng không phải. Ông sinh ngày 6/6/1935 tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Lớn lên, ông đi văn công khu ủy Tây Bắc rồi về học sáng tác ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Học xong, tiếp tục được tu nghiệp thêm ở Nhạc viện Xôphia (Bungari) từ 1969 - 1972. Về nước, ông giảng dạy ở Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam). Về sau, chuyển sang làm Giám đốc Công ty biểu diễn Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa (Vinaconcert) và nghỉ hưu tại đây.

Được học hành bài bản, Đinh Quang Hợp sáng tác kỹ, chỉn chu, thận trọng trong từng nốt nhạc. Số lượng tác phẩm không nhiều nhưng ông viết chắc. Ông vẫn nói với học trò: “Các bạn khi chưa học có thể viết mạnh, viết nhanh vì “điếc không sợ súng”, nhưng khi đã học hành cẩn thận thì không thể viết như vậy mà phải cân nhắc rất kỹ từng nốt nhạc, từng chi tiết nhỏ nhất”.

Ngoài bài “Tiếng hát sông Lam” nổi tiếng, Đinh Quang Hợp còn những ca khúc có chất lượng khác: “Con đường quê Thanh”, “Huyền thoại tình yêu”, “Hoa Lư non nước tình yêu”, “Bức thư sông Đà”, “Làng mới trên đất biển”, “Câu hò trên những dòng kênh”, “Ánh mắt vào đời”, “Nhịp cầu sông Mã”… Ông cũng là tác giả nhiều tác phẩm khí nhạc: Bản sônát cho đàn piano “Nước xoáy”, sônát cho hai đàn piano và violon “Cô gái đất dừa”, tam tấu đàn thập lục “Hội xuân”, hòa tấu nhạc cụ cổ truyền “Trên đồng ruộng quê hương”. Thanh xướng kịch “Lửa và hoa”. Dịp chuẩn bị kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, ông viết bản giao hưởng hoành tráng “Chiếu rời đô”. Ngoài ra, có 6 bản giao hưởng khác và ôpêra (nhạc kịch) “Biển sống mãi trong tôi”.

trang 17 - nsnd tuong vy.jpg -0
NSND Tường Vi - người hát hay nhất bài “Tiếng hát sông Lam”.

Đinh Quang Hợp giản dị, bình dân, có tính cách điềm đạm, ôn hòa, sởi lởi, dễ gần. Có chút vốn liếng, kinh nghiệm gì trong nghề nghiệp, ông tận tình chỉ bảo, truyền hết cho các học trò nên được họ rất quý mến, gần gũi. Với bạn bè, đồng nghiệp, ông chân tình, cởi mở.

Tôi có một số lần cùng ông đi sáng tác tiết mục cho các đoàn văn công địa phương. Năm 1981, chúng tôi cùng vào làm việc ở đoàn Ca múa miền núi Thanh Hóa (khi ấy, tỉnh này có hai đoàn ca múa, một miền xuôi và một miền núi). Đinh Quang Hợp có viết cho đoàn vở ôpêrét (nhạc kịch có quy mô nhỏ, ngắn hơn ôpêra). Trước khi dàn tập, ông nhờ tôi xem lại và sửa chữa phần lời ca. Tôi vừa nể, vừa cũng bận nên ngại, đã từ chối khéo. Ông nói: “Mình yếu về văn học, nhất là làm ca từ chưa được như ý. San giỏi văn chương và làm ca từ hay, gắng giúp mình. Cần thì mình đề tên cậu ở phần lời ca”. Tôi không đồng ý như vậy vì nếu có sửa giúp ông, chỉ là chút ít, không đáng kể. Không thể đề liên danh như thế. Và tôi đã cố gắng đáp ứng ông.

Nói chi tiết này để thấy ông rất khiêm tốn, luôn cầu thị dù khi ấy đã có bài “Tiếng hát sông Lam” nổi tiếng và đang là giảng viên Nhạc viện Hà Nội, trong khi tôi thậm chí còn chưa ngồi ghế trường này. Ông còn rất chân tình khi góp ý sáng tác mới cho tôi mà không né tránh hoặc khen xã giao. Vậy nên ông là một trong những người tôi hay xin ý kiến mỗi khi viết xong một bài. Thường ông góp ý rất đích đáng khiến tôi bị thuyết phục.

Lần ấy, tôi viết bài “Tiếng hát giữa quê hương”. Sau khi nghe tôi hát, ông góp cho một chỗ thật chí lý. Tôi để một nốt ở vòng hòa thanh có phần mới mẻ. Ông đề nghị để ở một hòa thanh khác dung dị hơn. Ông nói: “Muốn mới mẻ, hiện đại gì thì cũng phải phục vụ ý đồ ban đầu. Bài này cậu viết về chủ đề định canh định cư cho miền núi ở Thanh Hóa. Cả bài đã ổn. Đến chỗ đó nghe bật ra ngoài, không được lô-gic với cả mạch âm nhạc chung, nghe hơi gượng”. Lúc đầu tôi chưa thông và đã không nghe ông. Đến khi tập cho diễn viên, họ cũng nói như ông. Thế là tôi phải sửa lại như ý ông góp.

Chẳng những sẵn sàng nghe lời góp của bất cứ ai về tác phẩm mới của mình, sau khi hoàn thành một bài, ông còn hay tham khảo tôi về việc lựa chọn ca sĩ thể hiện lần đầu tiên. Và ông luôn nghe theo. Ông có ý muốn thu thêm giọng một nam ca sĩ hát lại bài “Tiếng hát sông Lam” vì từ khi ra đời bài này, toàn nữ hát. Ông hỏi tôi nên là giọng nam nào. Tôi gợi ý ông tốt nhất là tìm ở đoàn Ca múa Nghệ An xem có nam ca sĩ nào không. Nếu chưa ưng ý, có thể thu giọng Trung Kiên. Nhưng ông nói Trung Kiên giọng bay, điêu luyện nhưng hơi sắc. Cuối cùng tôi nghĩ đến giọng Kiều Hưng. Nhưng không hiểu sau đó vướng mắc gì mà việc không thấy thực hiện. Đến bây giờ, chỉ toàn nữ hát bài này.

Đinh Quang Hợp cũng không giấu những chuyện thuộc cõi riêng tư. Ông rất hồn nhiên kể cho tôi nghe những ngày đầu tiên ông và phu nhân đến với nhau. Ông hỏi bà: “Anh hơn em những 10 tuổi, lại là dân âm nhạc, văn nghệ, chẳng được tích sự gì. Em thấy anh có gì hay không mà đến với anh?” (ngày ấy, hơn tuổi nhau như thế đã được coi là nhiều). Bà lườm ông một cách âu yếm rồi nói: “Anh khờ lắm. Không có gì hay thì giờ đã không như thế này”. Cho đến lúc xế bóng của cuộc đời, ông bà vẫn luôn xưng hô “anh, em” rất tình cảm mà không bao giờ “ông, bà” thay cho các cháu như nhiều cặp uyên ương lúc về già. 

Bị bệnh phổi nặng từ mấy năm nay, mặc dù được gia đình tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng vào hồi 6 giờ ngày 29/12/2022, Đinh Quang Hợp đã vĩnh biệt cõi tạm, về miền mây trắng. Ông hưởng thọ 88 tuổi và lưu danh với một ca khúc để đời, xứng đáng nhận giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012 và vừa được đôn lên Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt tới.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.