Chuyện hy hữu: Nhầm thơ Bế Kiến Quốc với thơ Henrich Hainơ

Cách đây hơn ba chục năm, khi còn công tác ở Báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, tôi chơi khá thân với nhà thơ Bế Kiến Quốc và đã có dịp làm sáng tỏ một “nghi án” văn chương liên quan đến một bài thơ tình của anh. Sự việc bắt đầu từ bài thơ “Hoa huệ” của Bế Kiến Quốc in trên Báo Người Hà Nội ra ngày 1/7/1990 với những câu thơ:

Huệ trắng, bức tường trắng
Sao bóng hoa lại đen
Em đừng nhìn đi đâu nữa em
Anh không biết vì sao, ai có lỗi
Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi
Sao bóng hoa trên tường lại đen

Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ tình này anh viết tặng một người bạn gái cùng học năm thứ hai Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên năm 1967. Mối tình trắc trở giữa hai người và hình ảnh ngọn đèn dầu hắt bóng hoa lên tường thành màu đen đã giúp anh viết nên bài thơ tình độc đáo ấy.

Từ bài thơ “Bóng đen” đến bài thơ “Hoa huệ”

Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ “Hoa huệ” có bản thảo đầu tiên mang tên là “Bóng đen” gồm 10 câu thơ được anh đọc trong các đêm thơ sinh viên và được các bạn chép tay, chuyền cho nhau. Khi ấy, không ai nghĩ rằng, hai năm sau, Bế Kiến Quốc đoạt giải Nhì cuộc thi thơ 1969-1970 của Báo Văn nghệ (nhà thơ Phạm Tiến Duật đoạt giải nhất).

Riêng bài thơ “Bóng đen” của anh, trong không khí thi ca ngày ấy, thật khó mà xuất hiện trên sách báo. Do đó, ngay cả khi đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Bế Kiến Quốc cũng không thể cho in bài thơ “Bóng đen” ra mắt bạn đọc; chỉ một vài lần anh “xuất bản miệng” bài này trong các cuộc đọc thơ và chép vào sổ tay một số bạn yêu thơ. Và phải hơn 20 năm sau, bài thơ “Bóng đen” được đổi tên thành “Hoa huệ” mới được công bố trên Báo Người Hà Nội với bản thảo đã được nhà thơ Bế Kiến Quốc rút gọn từ 10 câu thơ xuống còn 6 câu thơ như trên.

2 nhà thơ bế kiến quốc và nguyễn việt chiến.jpg -0
Cố nhà thơ Bế Kiến Quốc (trái) và nhà thơ Nguyễn Việt Chiến thời trẻ.

Câu chuyện về bài thơ trên không chỉ dừng ở đó. Sau khi bài thơ “Hoa huệ” được công bố, tháng 9/1992, tôi tình cờ có trong tay cuốn Almanach “Người mẹ và phái đẹp” (một cuốn bách khoa thư về phụ nữ) do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành (nộp lưu chiểu tháng 12/1990). Khi đọc phần tuyển chọn những bài thơ tình hay của thế giới và Việt Nam, tôi giật mình đọc thấy tên nhà thơ nổi tiếng thế giới Henrich Hainơ (Đức) ở bài thơ “Bóng đen” với 10 câu thơ sau :

Bông huệ trắng và bức tường cũng trắng
Sao bóng hoa trên tường lại đen
Em nhìn đi đâu thế em
Ừ, anh biết chúng mình không có lỗi
Nhưng lòng em băn khoăn tự hỏi
Sao bóng hoa trên tường lại đen
Có thể nào anh lại không tin
Bông huệ trắng và bức tường cũng trắng
Ai hiểu được cuộc đời kỳ lạ lắm
Mà bóng em buồn ngả xuống giữa lòng anh

Phía dưới bài thơ ghi rõ “Rút từ tập thơ Hainơ - NXB Văn học, 1970”. Tôi băn khoăn, nghi ngờ vì sự giống nhau đến kỳ lạ giữa hai bài thơ có cùng một tứ thơ, nhưng nhà thơ vĩ đại người Đức Henrich Hainơ đã mất từ lâu rồi, nên chắc chắn “cụ” ấy không bao giờ đọc thơ Bế Kiến Quốc.

Tôi mang cuốn “Người mẹ và phái đẹp” đến cho Quốc đọc và hỏi: “Anh giải thích như thế nào về hai bài thơ Hoa huệ và Bóng đen khi có ý kiến cho rằng có thể anh đã bắt chước, thậm chí là “thuổng” thơ của thi hào Đức Henrich Hainơ?”. Bế Kiến Quốc ngơ ngác, thất thần nhưng anh cũng đã chỉ rõ bài thơ “Bóng đen” 10 câu in trên cuốn Almanach “Người mẹ và phái đẹp” mang tên Henrich Hainơ chính là bản thảo đầu tiên gồm 10 câu của bài thơ “Bóng đen” anh viết năm 1967, chính vì bài thơ có tựa đề u ám như thế nên không thể nào in được vào thời điểm đó.

“Sau này thấy bài thơ “Bóng đen” có vẻ hơi dàn trải, một vài câu hơi thừa, một vài chỗ chưa ưng ý lắm, nên tôi đã sửa lại cho cô đọng hơn và đổi tên bài thơ thành “Hoa huệ”. Còn, vì sao bài thơ “Bóng đen” lại được đưa vào sách và nhầm thành của Henrich Hainơ thì tôi hoàn toàn không hiểu”, Bế Kiến Quốc băn khoăn.

Việc “Tam sao thất bản” dẫn đến sự nhầm lẫn

Để tìm lời giải đáp, người viết bài này đã đến gặp nhà thơ Lữ Huy Nguyên, (lúc ấy là Giám đốc NXB Văn học) để tìm hiểu tập “Thơ Hainơ” được xuất bản năm 1970. Ông Nguyên và tôi đọc toàn bộ tuyển thơ này, thấy không có bài “Bóng đen” và hoàn toàn không có một ý thơ, một tứ thơ, một hình ảnh thơ nào tương tự như thế. Để làm rõ hơn, nhà thơ Bế Kiến Quốc và tôi đến gặp nhà thơ Quang Huy (lúc đó là Giám đốc NXB Văn Hóa - nơi in cuốn “Người mẹ và phái đẹp”).

Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra con đường “sai sót” đưa bài thơ vào tập sách, vì ở cuối phần chọn thơ có ghi rõ những người tham gia tuyển chọn có cả “Tập thể sinh viên năm thứ ba, thứ tư Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”. Như vậy, bài thơ “Bóng đen” chép tay, lưu truyền trong giới sinh viên đến mức “tam sao thất bản” nhầm lẫn cả tên tác giả đã được đưa vào một cuốn sách khá nổi tiếng.

Về việc trên, năm 1992, nhà thơ Quang Huy thay mặt NXB Văn hóa đã xin lỗi nhà thơ Bế Kiến Quốc, trả nhuận bút bài thơ “Bóng đen” và hứa khi tái bản lần sau sẽ sửa chữa lại cho đúng. Khi ấy, tôi hỏi vui Bế Kiến Quốc “có nên “chúc mừng” anh vì bị nhầm thành Hainơ không nhỉ?”, nhà thơ cười cho rằng: “Nhầm thành ai cũng không thích thú gì! Tôi chỉ cần là chính mình mà thôi. Nhân tiện anh xin kể thêm: Hồi trước 1975, một tờ báo tiến bộ trong đô thị miền Nam đã in bài thơ “Những dòng sông" của tôi để cổ động phong trào sinh viên yêu nước (Bài thơ được trao giải thưởng Báo Văn nghệ năm 1969) dưới tên tác giả Hồng Hà để tránh sự kiểm duyệt.

Và, một chuyện khác, bài thơ “Biến tấu lý qua cầu” của tôi (cho tới nay vẫn chưa in sách báo lần nào) đã được nhạc sĩ Trần Tiến phỏng lời câu thơ: “Bằng lòng đi em về với quê anh/ một cù lao xanh một dòng sông xanh…! Mỗi khi buồn muốn khóc - Một mình anh ca điệu Lý qua cầu…”. Khi làm bài thơ này, tôi có đọc cho Trần Tiến nghe, anh ấy thích, bảo tôi chép cho một bản và nói sẽ từ gợi ý của bài thơ để viết một bài hát. Nay mai, nếu tôi in bài thơ đó, rất có thể sẽ có ai đấy ngờ tôi lấy ý bài hát của Trần Tiến. Chính vì ngại phải giải thích dài dòng mà cho tới nay tôi cũng chẳng muốn in bài thơ ấy nữa”. Bế Kiến Quốc giữ đúng lời nói ấy, trong tập thơ cuối cùng, trước lúc qua đời năm 2002, nhà thơ không đưa bài thơ ấy vào trong tập thơ “Mãi mãi ngày đầu tiên” của mình.

Với những đóng góp đáng ghi nhận cho văn học đương đại Việt Nam, cố nhà thơ Bế Kiến Quốc (nguyên Tổng biên tập Báo Người Hà Nội) đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2012. Tôi kể lại câu chuyện nói trên như một sự tưởng nhớ đến anh, một người bạn văn chương thân thiết đã đi xa, nhưng thơ anh vẫn còn ở lại với những độc giả thơ hôm nay.

Nhận xét về cố nhà thơ Bế Kiến Quốc, trong một lần trao đổi với tôi, nhà thơ Hữu Thỉnh, cựu Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Tổng biên tập Báo Văn Nghệ xúc động nhớ lại: “Bế Kiến Quốc là một nhà thơ đầy lý tưởng và khát vọng, ngọn lửa tinh thần sáng tạo ông mang trong mình từ thuở là sinh viên còn cháy mãi trong cuộc đời làm thơ, làm báo cho đến lúc Quốc qua đời. Khi nhà thơ còn sống, chưa bao giờ tôi thấy ngọn lửa ấy, niềm tin trong sáng ấy suy sụp trong Quốc - một con người trung thực, nhất quán, đòi hỏi rất cao ở mình và bạn bè, đồng nghiệp. Từ những bài thơ đầu tay hồi sinh viên cho tới những sáng tác sau này về thân phận, về những nỗi buồn thấm thía trong đời con người, ở đâu ta cũng thấy một nhân cách thơ Bế Kiến Quốc.

Điều thứ hai, Quốc là một người luôn luôn nén mình, đốt cháy mình cho sự nghiệp thơ ca, ngọn lửa sáng tạo say mê luôn thôi thúc ông. Phẩm chất này thể hiện cả trong mấy chục năm Quốc làm Báo Văn nghệ. Bế Kiến Quốc là một nhà thơ tiêu biểu của lớp chống Mỹ về khát vọng sống nhưng lúc còn sống thì ông chưa “xuất lộ” hết diện mạo thơ ca của mình và vì thế chưa được đánh giá đầy đủ. Chỉ đến khi ông qua đời, qua một số tập thơ in sau đó, ta mới thấy Bế Kiến Quốc là một nhà thơ thật sự xuất sắc mà trước đó thơ của ông chỉ như một tảng băng nhô trên biển còn phần chìm bề thế của tảng băng thì chưa lộ diện. Phẩm chất ấy, nhân cách sống ấy giúp cho nguồn thơ của ông không vơi cạn, không thấy sự bế tắc khi ông đã lựa chọn đường đời và đường thơ rất chính xác”.

Hôm vừa rồi, lên viếng mộ ở nghĩa trang Thanh Tước, Phúc Yên, Hà Nội tôi ghé thắp hương nơi nhà thơ Bế Kiến Quốc yên nghỉ. Tấm di ảnh của anh vẫn còn tươi sau hương khói thời gian như câu thơ anh từng nhắn nhủ với cuộc đời: “Hãy nhìn anh như nhìn một dòng sông - luôn luôn chảy luôn luôn đi tới”

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.