Chuyện đường rừng của "kiện tướng" đào củ chụp

Nếu còn sống, ngày 17-2-2016, nhà văn Lý Văn Sâm, một gương mặt tiêu biểu và độc đáo của văn học Nam Bộ thế kỷ XX sẽ tròn 95 tuổi. Lý Văn Sâm cùng với Vũ Anh Khanh từng được đánh giá là hai cây bút xuất sắc nhất ở miền Nam giai đoạn 1945-1954. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2006.

Người con của rừng miền Đông

Nói đến Lý Văn Sâm, nhiều người nghĩ ngay đến một con người khí phách, nghĩa hiệp, một cây bút tài năng tiên phong về chuyện đường rừng. Lý Văn Sâm hợp cùng với thi tướng Huỳnh Văn Nghệ và các nhà văn Bình Nguyên Lộc, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Xuân Miễn,… làm nên diện mạo văn chương miền Đông đất đỏ từ thời kháng chiến chống Pháp. Vào đầu thập niên 1990, sau khi rời các chức vụ quản lý văn nghệ, nhà văn Lý Văn Sâm về "ở ẩn" trên đường Trương Quốc Dung, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh. Ẩn sau con người nhỏ nhắn, gầy yếu, xởi lởi là một tính cách mạnh mẽ, một "từ điển sống" với nhiều câu chuyện ly kỳ của bản thân, đồng đội và cả một giai đoạn trường kỳ kháng chiến gian khổ.

Ông sinh năm 1921 ở vùng rừng Tân Uyên của tỉnh Biên Hòa, nay thuộc xã Bình Long, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Khi nhỏ ông còn có tên Đào Lê Nhân. Từ nhỏ, sống giữa vùng rừng hoang vắng đã ảnh hưởng đến tính khí lẫn con đường văn chương của ông về sau. Ông cho biết: "Năm 7 tuổi, tôi mới có dịp ra thị trấn Tân Uyên. Tôi cứ ngồi bó gối ở trong nhà bà ngoại, thấy xe hơi chạy, ao ước có lúc mình được ngồi trên chiếc xe đó.

Nhà văn Lý Sâm.
Nhà văn Lý Sâm.

Ông già tôi làm kiểm lâm và lãnh tiền xâu trả cho công nhân đốn cây. Tôi ở với bà ngoại, không có điều kiện trò chuyện với ai, hết sức cô đơn. Một lần nhà bị cháy, gia đình ngoại tôi chạy từ rừng về, tưởng tôi bị chết cháy trong đó rồi. May có cô câm giúp việc tên là Quơn la ú ớ rồi nhảy vô cứu tôi ra. Lúc 7 tuổi, tôi đã biết tiếng Tây do cha tôi dạy. Sống ở chốn rừng núi âm u làm tôi hay bất mãn, ghét sự bất công của và thích ẩn dật".

Lớn lên, Lý Văn Sâm được gia đình tạo điều kiện xuống Sài Gòn học ở Trường Pétrus Ký, rồi ra học ở Quốc học Huế. Thời kỳ này ông bắt đầu tập viết văn. Lý Văn Sâm rất thích văn thơ của Thanh Tịnh, người thầy dạy văn cho mình ở Trường Quốc học Huế. Ông kể: "Nhà văn Thanh Tịnh rất giản dị, ông từng ăn cơm tháng chung với tôi. Trong quyển tập của tôi, ông có viết chơi hai câu thơ bất chợt: Đã bao năm dưới liễu ta gò cương/ Ta chỉ thấy sông xa tràn bọt trắng. Hai câu thơ ấy ông chỉ viết chơi, nhưng tôi thấy mình cần phải học tập ở ông này".

Giấc mộng văn chương chưa thành, Lý Văn Sâm đã phải bỏ học về quê làm chủ một lò than. Bằng năng khiếu bẩm sinh ông lại tiếp tục theo đuổi con đường văn chương. Hai truyện đầu tiên của ông là "Cây nhị sông Phố", "Cái ống tiền" đã được nhà văn Vũ Bằng đăng liên tiếp trên "Tiểu thuyết thứ bảy" ở Hà Nội năm 1941.

Khí phách Nam Bộ

Từ vốn sống đã ăn vào máu thịt, Lý Văn Sâm say mê viết chuyện đường rừng. Lúc đó, những cây bút nổi tiếng ngoài Bắc như Lan Khai, Thế Lữ từng viết thể loại này, còn trong Nam thì chưa ai viết, nhưng ông viết thì chẳng báo nào chịu đăng. Không nản, ông thử gởi truyện ra Hà Nội cho nhà văn Vũ Bằng, chủ bút "Tiểu thuyết thứ bảy". Ông nhớ lại: "Vũ Bằng đọc rồi gởi thư vô cho tôi, gợi ý cho tôi viết về con người sống, làm việc ở chốn núi rừng. Nhờ sự khuyến khích quí báu đó, tôi viết luôn chuyện đường rừng".

Nhắc đến Lý Văn Sâm người đọc thường nghĩ ngay đến truyện "Kòn Trô". Bản thân ông cũng thích thú vì đó là truyện ngắn đầu tay, gắn liền với câu chuyện tình lãng mạn của ông, cho dù không phải là truyện được đăng báo trước tiên. "Lúc tôi đang làm ở lò than, có một chiếc xe hơi vừa chạy tới đó bị chết máy. Một cô gái vô nghỉ nhờ và ăn cơm tại nhà tôi. Sau đó, tôi mới tưởng tượng viết truyện, mà nhân vật chính Kòn Trô (con Trời) là tôi, còn Thể Phụng, nhân vật thứ hai chính là cô gái đó".

Trước năm 1945, ông thường ký tên Ánh Minh. Ông cho hay: "Hồi nhỏ, tôi đi học trường tiểu học ở Biên Hòa, có cô giáo tên Huỳnh Minh Ánh. Lúc thi lấy bằng tiểu học, môn tiếng Pháp, tôi đi thi trễ. Cô nói: "Trò cứ vô đi". Giờ đó thi tiếng Việt dịch sang tiếng Pháp, cô bảo tôi dịch câu này: "Rượu giết người nhiều hơn giặc". Tôi đang lúng túng thì cô giáo viết trên miếng giấy nhỏ đưa cho tôi. Và kết quả, tôi được 9 điểm. Nhưng điều quan trọng là thi cử thời đó khó lắm, giáo viên trường khác đến coi thi, nhưng lại giúp đỡ học sinh như thế thật hiếm. Nhớ ơn cô, tôi lấy bút danh Ánh Minh".

Không chỉ tình nghĩa mà Lý Văn Sâm còn là con người khí phách. Ông đã tham gia lực lượng Thanh niên Tiền phong khởi nghĩa cướp chính quyền ở Biên Hoà trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vừa làm cán bộ tuyên truyền vừa tiếp tục kinh doanh lò than. Pháp tái xâm lược, ông hiến lò than cho cách mạng, đốt nhà mình để tiêu thổ kháng chiến. Năm 1946, Lý Văn Sâm bị địch bắt trong một trận càn. Một thời gian sau ông được thả, nhưng chịu sự quản thúc của chính quyền thực dân. Ông rời Biên Hoà bỏ trốn xuống Sài Gòn.

Nhà văn Lý Văn Sâm (ngoài cùng bên phải) và các đồng nghiệp trong chiến khu năm 1967.
Nhà văn Lý Văn Sâm (ngoài cùng bên phải) và các đồng nghiệp trong chiến khu năm 1967.

Sài Gòn là mảnh đất rộng mở cho báo chí và văn chương. Ông công tác trong ngành an ninh đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, được tổ chức phân công hoạt động công khai trên lĩnh vực văn nghệ, báo chí. Bút danh Lý Văn Sâm bắt đầu chính thức xuất hiện trên các tờ báo Việt Bút, Tiếng Chuông, Lẽ Sống, Bình Minh. Ông cũng tự sống hoàn toàn bằng nhuận bút.

Một trong những tác phẩm gây ấn tượng của Lý Văn Sâm vào thời kỳ này là truyện "Nắng bên kia làng" đăng năm 1948. Đây cũng là truyện ông rất tâm đắc. "Bối cảnh ra đời truyện này là khi tôi bị bắt, bị quản thúc ở Biên Hòa, được thầy giáo cũ là Phú Văn Nên bảo lãnh ra. Suýt chút nữa là tôi bị cắt cổ. Lúc bị bắt, bọn Tây muốn xách cổ ai ra cắt thì nó xách. Lúc nó cắt cổ đến người anh của Hoàng Văn Bổn, thì tôi nghĩ đã sắp tới mình. May mà có ông thầy thương tôi khi còn đi học cứu cho".

"Thời cực tận mạng mà vui cũng tận mạng"

Vào năm 1949, nhà văn Lý Văn Sâm bị địch bắt tại Sài Gòn. Gần một năm sau, ông ra khỏi tù và bí mật vào chiến khu miền Đông. Sau 1954, ông được phân công trở về Sài Gòn hoạt động hợp pháp trên mặt trận văn nghệ, báo chí cùng với các đồng nghiệp như Dương Tử Giang, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Kiên Giang,...

Cuối năm 1955, Lý Văn Sâm cùng với các nhà văn Thiếu Sơn, Dương Tử Giang, Tư Mã Việt, Tô Nguyệt Đình,… lại bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, đưa về Trung tâm Cải huấn Biên Hòa, tức nhà lao Tân Hiệp. Vào ngày 2-12-1956, nhà văn Lý Văn Sâm đã tham gia cuộc phá lao vượt ngục và trốn thoát vào chiến khu, trong khi nhà văn Dương Tử Giang bị trúng đạn của địch đã hy sinh.

Nhớ về buổi đầu gian khổ trong chiến khu chống Mỹ cứu nước, nhà văn Lý Văn Sâm cho hay: "Tôi được anh Nguyễn Hữu Xuyến, chỉ huy trưởng quân sự phân công "bao sân", nghĩa là bộ đội cần gì làm nấy. Báo chí có tờ "Chiến Thắng" viết và vẽ khá đẹp. Ban biên tập gồm có tôi, anh Trường Thắng, Huỳnh Anh Tuyên (đều hy sinh trước 1975), vài ba tháng, báo mới ra được một số. Một buổi sáng, anh Xuyến gọi tôi lên, pha trà đãi một chầu (anh mới đi họp "trên" về). Anh cho tôi biết là tôi sẽ về nhận một công tác hợp sở trường và sức khỏe vì... "anh ốm yếu mà ở đây ăn củ chụp mãi không chịu nổi đâu". Tôi được bổ nhiệm làm Tổng thư ký (đầu tiên) của Hội Văn nghệ Giải phóng kiêm Thư ký tòa soạn Báo "Văn Nghệ Giải Phóng". Thời đó cực tận mạng mà vui cũng tận mạng"!

Ở trong rừng, nhà văn Lý Văn Sâm được từng "phong" là "kiện tướng đào củ chụp".

Sau năm 1975, ông được bầu làm Phó Tổng thư ký Hội liên hiệp VHNT Việt Nam, Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam, đại biểu Quốc hội khoá VI, Chủ tịch Hội VHNT Đồng Nai… Năm 2000, ông ra đi. Tác phẩm vừa trữ tình lãng mạn, vừa âm vang hào khí miền Đông anh hùng thì còn ở lại, đã trở thành niềm ngưỡng mộ của độc giả nhiều thế hệ: "Kòn Trô" (1941), "Nắng bên kia làng" (1948), "Sương gió biên thuỳ" (1948), "Mười lăm năm hận sử" (1949), "Sau dãy Trường Sơn" (1949),… sau này có thêm "Bức chân dung" (1983), "Bến xuân" (1985), "Ngàn sau sông Dịch" (1988)…

Phan Hoàng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.