Chim chơrao vẫn không ngừng bay

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Nguyễn Duy nhận xét rằng, trong đội ngũ nhà văn Việt Nam hiện nay, Thu Bồn có nhiều cái đáng được "xếp hàng đầu". Thu Bồn là người có đóng góp trong nhiều thể loại: thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và cả báo chí nữa; trong đó, ông là một trong những người khai mở và đặt dấu ấn thành công trong thể loại trường ca viết về chiến tranh chống Mỹ cứu nước, và cũng là tác giả có nhiều trường ca nhất...

Nhiều lúc tôi tự hỏi vì sao một người khi nằm xuống gần như với hai bàn tay trắng như Thu Bồn luôn được yêu mến? Ngoài tài năng, phải chăng còn một nhân cách Thu Bồn? Không câu nệ chức tước, lang bạt như một tráng sĩ, sống hết mình, yêu thương hết mình, sáng tạo hết mình - nhà thơ Thu Bồn đã có một cuộc đời và sự nghiệp phong phú, sôi động, đầy ý nghĩa. Cuộc đời ông như cánh chim đại ngàn không biết mệt mỏi, với khẩu súng và cây bút tung hoành ngang dọc khắp bầu trời Tổ quốc thân yêu. Sự nghiệp ông như khu rừng nguyên sinh vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, với những áng văn mang tính sử thi có sức sống vượt thời gian.

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
nón rất Huế nhưng đời không phải thế
mặt trời lên từ phía nón em nghiêng 

Nhịp cầu cong và con đường thẳng
một đời anh đi mãi chẳng về đâu
con sông giùng giằng con sông không chảy
sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Còn gì đẹp hơn, sâu sắc hơn trước dòng sông Hương thơ mộng trầm mặc in bóng thăng trầm lịch sử: "con sông giùng giằng con sông không chảy/ sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu". Có lẽ những nhà thơ xứ cố đô cũng phải "ghen" trước những câu thơ tài hoa ấy của một thi sĩ đất Quảng mà bút danh cũng mang tên một dòng sông. Bài thơ tình "Tạm biệt" của Thu Bồn là một trong những tác phẩm cuốn hút mãnh liệt chúng tôi đến với thế giới văn chương của ông từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Nhà thơ Thu Bồn tên thật Hà Đức Trọng, sinh năm 1935 tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 12 tuổi ông đã tham gia thiếu sinh quân, lên đường kháng chiến. Thu Bồn là một trong ba người còn sống sót sau chiến tranh của "tiểu đội nhà văn quân đội" gồm 13 người được cử vào chiến trường chống Mỹ năm 1962. Tay súng tay bút, ông sáng tác không ngừng nghỉ, dù trên đường hành quân hay ngay trong chiến hào giữa hai trận chiến. Nhà phê bình văn học Ngô Thảo - chiến hữu thân thiết của nhà thơ Thu Bồn kể: "Đi đâu trên đất nước này, chúng tôi cũng thấy có dấu chân Thu Bồn, vào những thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh để viết nên những tác phẩm nóng bỏng hơi thở cuộc sống".

Cuốn "Thu Bồn - tráng sĩ hề... dâu bể" đã ra mắt bạn đọc nhân kỷ niệm 10 ngày mất của nhà thơ.

Cuốn "Thu Bồn - tráng sĩ hề... dâu bể" đã ra mắt bạn đọc nhân kỷ niệm 10 ngày mất của nhà thơ.

Nhờ trường vốn và sức sáng tạo mạnh mẽ nên Thu Bồn đã có một gia tài đồ sộ với gần 25 đầu sách. Về thơ và trường ca, có thể kể: "Bài ca chim chơrao" (1962), "Mặt đất không quên" (1970), "Quê hương mặt trời vàng" (1975), "Badan khát" (1976), "Campuchia hy vọng" (1978), "Người vắt sữa bầu trời" (1985), "Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên" (1992), "Đánh đu cùng dâu bể" (2002)... Về văn: "Chớp trắng" (tiểu thuyết - 1970), "Những đám mây màu cánh vạc" (tiểu thuyết 2 tập - 1975), "Em bé trong rừng thốt nốt" (tập truyện ngắn - 1979) "Đỉnh núi" (tiểu thuyết - 1980), "Vùng pháo sáng" (tiểu thuyết - 1986), "Cửa ngõ miền Tây" (tiểu thuyết - 1986), "Em bé vào hang cọp" (tiểu thuyết 2 tập - 1986),...

Nhà thơ Thu Bồn đã được nhận Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (năm 1965) của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam; Giải thưởng Bông sen (năm 1973) của Hội Nhà văn Á - Phi; Giải thưởng văn học Phan Chu Trinh (năm 1975) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 1, năm 2001). Trò chuyện với chúng tôi, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định: "Điều quan trọng nhất của vẻ đẹp cốt cách Thu Bồn thể hiện từ con người đến tác phẩm là sự trần trụi, chân thực. Tác phẩm là bản sao của tâm hồn. Thu Bồn sống thật, đau khổ thật, vật vã thật. Tác phẩm của Thu Bồn luôn hiện lên những mảng trần trụi của sự thật, cho dù anh có cách điệu, sáng tạo. Điều đó chỉ có ở một người từng trải. Nhờ vậy mà người đọc tin yêu anh, tìm đến anh".

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Nguyễn Duy nhận xét rằng, trong đội ngũ nhà văn Việt Nam hiện nay, Thu Bồn có nhiều cái đáng được "xếp hàng đầu". Thu Bồn là người có đóng góp trong nhiều thể loại: thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và cả báo chí nữa; trong đó, ông là một trong những người khai mở và đặt dấu ấn thành công trong thể loại trường ca viết về chiến tranh chống Mỹ cứu nước, và cũng là tác giả có nhiều trường ca nhất. Thu Bồn được nhận nhiều giải thưởng văn học từ địa phương đến trung ương và quốc tế, những giải thưởng được trao một cách xứng đáng chứ không phải là thứ ban phát. Thu Bồn cũng là một trong những nhà thơ có nhiều đóng góp với tư cách người lính suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, rồi chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc (dù chỉ mang quân hàm trung tá); được Nhà nước tặng thưởng hơn 10 huân huy chương các loại…

Ngoài viết văn, Thu Bồn còn là một người sống khỏe và quyết liệt nhất, yêu thương đắm đuối nhất. Thơ tình của ông như thác gào, như suối chảy. Tình yêu của ông đầy giai thoại. Thu Bồn say mê phụ nữ và cũng sống hết mình với bạn bè nên có nhiều người yêu và cũng có đông đảo bè bạn. Ở đâu có Thu Bồn là ở đó có tiếng cười rộn rã, có sự tin yêu của tình bạn. Ngược lại, tình bạn cũng là sự tiếp sức rất lớn đối với ông. Thu Bồn luôn hướng tới cuộc sống giản đơn, tước bỏ mọi ràng buộc không cần thiết, chẳng màng chức tước hư danh. Cuộc sống và sự nghiệp Thu Bồn phong phú và điển hình đến độ nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã dựa vào đó để xây dựng nhân vật chính trong tiểu thuyết nổi tiếng "Học phí trả bằng máu".

So với các nhà thơ cùng thời, trường ca là thế mạnh và cũng là đóng góp lớn của Thu Bồn. "Bài ca chim chơrao" của Thu Bồn đã đặt dấu son không chỉ đối với nền thơ ca chống Mỹ mà còn đối với cả nền văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX. Thu Bồn quan niệm rằng trường ca là một kiến trúc tổng hợp của thơ ca và cuộc chiến tranh gian khổ mà hào hùng của dân tộc trong thế kỷ đầy phong ba vừa qua chính là nền tảng để từ đó, ông cho khai sinh hàng loạt bản trường ca. Nó chính là "con đẻ" từ trong máu lửa tro than, từ những cuộc hành quân đằng đẵng từ Bắc chí Nam mang khát vọng độc lập tự do của cả một dân tộc…

Nhà thơ Thu Bồn cũng từng "bật mí" rằng có một nhân vật đi xuyên suốt trong các trường ca của ông, mặc dù tên tuổi không hề xuất hiện ở một dòng nào: "Tôi thường gọi tên anh là người chạy trốn ra phía trước hoặc người an bình trong tiếng súng… và cuối cùng gọi anh là Che Guevara Việt Nam". Đó chính là Thiếu tướng - nhà văn Nguyễn Chí Trung, người cùng Thu Bồn, Thanh Giang là ba người còn sống sót sau hòa bình của tiểu đội nhà văn 13 người năm ấy. Nguyễn Chí Trung cùng Nguyên Ngọc, Thu Bồn cũng là ba nhà văn bám trụ và viết nhiều nhất về Tây Nguyên trong chiến tranh. Sau này, với tư cách trợ lý Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, nhà văn Nguyễn Chí Trung đã có chuyến thăm Cuba. Về nước ông kể rằng, trong phần kết thúc bài diễn văn, đồng chí Lê Khả Phiêu có trích một đoạn trường ca như một lời tỏ bày tình cảm, và cũng là để các bạn Cuba hiểu đất nước ta hơn:

ngọn sóng qua đây thành lưỡi búa
ngọn gió qua đây thành mũi lao
cánh chim qua đây thành con tuấn mã
tờ giấy qua đây thành trang sử đỏ
quân thù nghe nói mặt xanh như tàu lá
chân ngựa vấp chân người, ngựa ngã (...)
bè bạn qua đây con tàu nặng
bè bạn qua đây con sóng lặng

Đó là trích đoạn từ trường ca "Campuchia hy vọng" được Thu Bồn viết năm 1978, mà theo nhà văn Nguyễn Chí Trung - đây là tác phẩm có tính "tiên tri" về cuộc tiến quân vào Phnôm Pênh của bộ đội Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế, cứu nước bạn thoát khỏi nạn diệt chủng của chế độ Pol Pot. Trường ca này đã được  Thủ tướng Hun Sen đọc và đánh giá rất cao:

Chúng tôi sẽ tiến về Phnôm Pênh
như nước lũ tràn
của cả mùa mưa loài người đương chịu đựng
đền chùa hãy gióng lên tiếng trống
đã giấu trong lòng đất lòng người
tất cả hãy gióng lên.

Trường ca của Thu Bồn đã vượt biên giới Tổ quốc đến với nhiều dân tộc anh em ở Á - Phi - Mỹ Latinh!

Nhà thơ Thu Bồn ra đi tới nay đã tròn 10 năm. Cánh chim đại ngàn Thu Bồn vẫn bay cao trong lòng đông đảo đồng nghiệp và những người yêu quý ông. Đó là sự tôn vinh xứng đáng đối với một tài năng và nhân cách văn học mà sinh thời vốn chịu nhiều thiệt thòi. Nhân dịp này, tuyển tập "Thu Bồn - tráng sĩ hề… dâu bể" cũng đã được ra mắt bạn đọc…

Phan Tấn Hùng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.