“Chiến dịch Hồ Ly Tinh” của mật vụ Mỹ

Một ý tưởng lạ đời mang tên mã “Chiến dịch Ảo Tưởng” (hoặc “Chiến dịch Hồ Ly Tinh”) đã được thực thi nhằm mục đích làm suy yếu sức mạnh của Trục Phát Xít bằng cách bắt chước các linh hồn huyền thoại. Tác giả John Lisle, người đã nhận bằng tiến sĩ sử học tại Đại học Texas, và là PGS thỉnh giảng tại Đại học công nghệ Louisiana sẽ kể một câu chuyện rất ly kỳ ngay trong bài viết bên dưới.

Ý tưởng “chiến dịch hồ ly tinh”

Trong làn sóng của Nhật Bản tấn công vào Trân Châu Cảng, ông William “Wild Bill” Donovan, thủ lĩnh của Cục tình báo chiến lược (OSS, cơ quan tình báo thời chiến của Mỹ) đã nói với các nhà khoa học của mình rằng phải tìm ra cách thức nào đó để giành thế thượng phong trước các kẻ thù Trục phát xít. Phản hồi lại, các nhà khoa học đã tạo ra rất nhiều mưu chước bẩn thỉu bao gồm cả bánh kẹp chứa chất nổ, bom cháy được buộc vào những con dơi sống, “thuốc sự thật” để moi thông tin từ tù chiến tranh, và cả loại thuốc xịt có mùi thối nhằm mô tả mùi phân... 

Trong số các ý tưởng lạ đời đó thì Chiến dịch Hồ Yêu (Hồ Ly Tinh) là kỳ dị nhất và tuyệt vọng nhất. Nó là ý tưởng độc đáo của chiến lược gia về chiến tranh tâm lý của OSS, ông Ed Salinger, một doanh nhân lập dị, người từng làm chủ một doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Tokyo trước chiến tranh.

Chiến lược gia chiến tranh tâm lý của OSS, ông Ed Salinger, tác giả của ý tưởng kỳ lạ về “Chiến dịch Hồ Ly Tinh”. Ảnh nguồn: Los Angeles Times
Chiến lược gia chiến tranh tâm lý của OSS, ông Ed Salinger, tác giả của ý tưởng kỳ lạ về “Chiến dịch Hồ Ly Tinh”. Ảnh nguồn: Los Angeles Times

Nhờ các giao dịch thương mại mà doanh nhân Salinger có được sự hiểu biết sơ lược về văn hóa Nhật Bản: học tiếng Nhật, sưu tầm nghệ thuật, và nghiên cứu về thế giới huyền bí học, đó cũng là lý do chính để OSS thuê ông. Chiến dịch Hồ Ly Tinh do Salinger đề xuất vào năm 1943 với sự tin chắc rằng nó sẽ tiêu diệt tinh thần binh lính và thường dân Nhật bằng cách dọa họ bằng một biểu tượng linh thiêng của Thần Đạo: kitsune (thần cáo / hồ ly tinh). Trong một bản ghi nhớ phác thảo về ý tưởng của mình gửi cho OSS, Salinger đã viết: “Nền tảng khiến tôi đề xuất ý tưởng này là bởi dân Nhật hiện đại thường rất hay bị mê hoặc chuyện hoang đường, tin vào ma quỷ, yêu quái. Do đó họ rất dễ bị thu hút và kích thích”.

Ông Vince Houghton, sử gia kiêm quản lý Bảo tàng Gián điệp quốc tế (ISM, Washington D.C, Mỹ) tác giả của cuốn sách Nuking the Moonđã viết rằng: “Chiến dịch Hồ Yêu” đã thể hiện bề rộng của sự phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa vị chủng và tâm lý coi thường văn hóa Nhật Bản của nhiều người, nếu không muốn nói là của nhiều thành phần tướng lĩnh chóp bu của quân đội, tình báo và giới lãnh đạo chính trị Mỹ”. 

Vì không mấy quen thuộc với các tôn giáo Đông Á thế nên OSS cho rằng người Nhật mê tín nặng hơn người Âu Châu. Trong thực tế, văn hóa Yokai của người Nhật khi cho rằng các loài động vật có tính siêu nhiên, huyền bí đã đi vào chuyện thần thoại dân gian và các dạng văn hóa khác. Học giả Michael Dylan Fostertừng viết: “Nghĩ về căn nguyên của Yokai, thực sự là một đề tài triết học: nó giúp hiểu về cách loài người đã cố gắng nắm bắt, giải thích và kiểm soát thế giới quanh họ”.

Kỳ công lên kế hoạch

Nghĩ đến cách thức tạo rakitsune giả, OSS đã nảy sinh độc kế. Trước hết, nhân viên OSS sẽ tạo ra những con cáo bằng bong bóng rồi thả bay trên khắp các làng mạc khắp đất Nhật nhằm hù dọa người dân bên dưới. OSS cũng nhờ một công ty chế ra những cái còi giả tiếng kêu của loài cáo khi bong bóng bay. 

Trong một bản ghi nhớ gửi cho nhân viên lập kế hoạch của OSS, Ed Salinger ra chỉ thị: “Những cái còi có thể dùng trong chiến đấu, và dùng một lượng lớn còi có thể phát ra thứ âm thanh rợn tóc gáy khiến cho người Nhật tin hồ yêu đang “hiển linh”. Ngoài bong bóng và còi, OSS còn thuê một công ty khác nhằm tạo ra mùi cáo nhân tạo. Salinger cho rằng có lẽ một số ít người Nhật đã biết hoặc quen với mùi cáo, và nếu như họ ngửi thấy mùi này thì lập tức sẽ trốn trong nhà, sợ hãi. Nhưng dù Salinger lên kế hoạch tinh vi, thì những quả bóng, còi và mùi cáo vẫn bị loại bỏ do bị cấp trên cho là chúng không thực tế.

William "Wild Bill" Donovan, thủ lĩnh của OSS. Ảnh nguồn: Underwood And Underwood / The LIFE Images Collection via Getty Images
William "Wild Bill" Donovan, thủ lĩnh của OSS. Ảnh nguồn: Underwood And Underwood / The LIFE Images Collection via Getty Images

Thay vào đó OSS vẫn giữ kế hoạch ban đầu của Salinger bằng cách lùng bắt cáo sống ở Trung Quốc và Australia, sau đó phun sơn phát sáng lên mình chúng rồi thả xuống các ngôi làng Nhật. Đề cập đến sơn cũng có nhiều lời bàn tính. Dùng loại sơn nào thì phù hợp và hiệu quả? Tập đoàn Radium Mỹ (1914-1970) đã mang đến một câu trả lời về một dạng sơn có tác dụng phát sáng trong bóng tối và thành phần của nó có chứa Radium. 

Không thấy đả động vấn đề sức khỏe liên quan đến sơn. Hồi đầu năm 1917, những công nhân nữ làm mặt đồng hồ có sơn phản quang đã mắc bệnh thiếu máu, gãy xương, hoại tử xương hàm vốn là hậu quả do họ dùng môi mình để cố định các đầu cọ vào một điểm chính xác trên mặt đồng hồ. Bất chấp nguy hiểm, OSS vẫn quyết chí tiến hành Chiến dịch Hồ Ly Tinh.

Bước tiếp theo là dùng sơn phóng xạ để phun vào lông cáo. Nhằm thử xem sơn có đủ độ bám dính và phát sáng hay không, OSS đã nhờ đến ông Harry Nimphius, một bác sĩ thú y tại Sở thú Trung Viên (New York). Ông Nimphius đã dùng một con gấu trúc Mỹ để phun sơn thử nghiệm và tăng khẩu phần ăn hàng ngày cho nó. Con gấu bị nhốt ở nơi biệt lập tránh ánh mắt của quan khách tham quan sở thú. 

Sau vài ngày, lớp sơn vẫn dính trên lông gấu. Để thẩm tra xem loài cáo có thực sự khiến dân Nhật sợ hay không, OSS đã quyết định thả 30 con cáo phát sáng xuống khu vực Rock Creek ở Washington D.C nhằm theo dõi phản ứng của dân tình sở tại. Nếu lũ cáo thực sự có thể khiến người Mỹ hoảng vía thì lô gic là hợp lý, chắc chắn chúng cũng sẽ làm dân Nhật phát khiếp.

Vào một đêm hè năm 1945, nhân viên OSS đã thả lũ cáo trong công viên, chúng men theo các lối mòn với không khí đầy hứa hẹn. Những cái bóng trắng thoắt ẩn thoắt hiện trên đường khiến dân Mỹ sợ hãi la hét. Một người dân chứng kiến sự việc đã run lẩy bẩy gọi ngay cho Cảnh sát vườn quốc gia: “Chúng tôi sợ lắm, có cái gì đó thình lình vọt ra, chúng nhảy ra từ các góc tối, xe cộ kẹt cứng, ai nấy chết khiếp”. 

Thử nghiệm thành công, nhưng vẫn còn không ít nỗi trăn trở. Làm thế nào đưa lũ cáo đến Nhật Bản? Lúc đầu OSS lên kế hoạch thả chúng xuống đại dương và để các con vật bơi vào bờ, nhưng không rõ liệu có bao nhiêu con sống sót để kế hoạch diễn ra suôn sẻ? Những con vật này có thể bơi đường dài không?

Bác sĩ thú y Nimphius chắc chắn lũ cáo có thể bơi tốt, nhưng nhóm của Salinger quyết định làm thí nghiệm để kiểm tra xem đúng hay sai. Trong màn sương mù dày đặc một buổi sớm mai, các sĩ quan OSS đã đưa một cái lồng cáo lên thuyền và thẳng tiến vịnh Chesapeake. 

Các con cáo được nhốt trong những cái chuồng nhỏ, vì khi tắt động cơ thuyền, lũ động vật trở nên cuống cuồng. Các sĩ quan tha? từng con một ném xuống làn nước biển lạnh giá, lúc đầu chúng chìm và sau đó bơi đi. Lũ cáo sống sót trước sự reo hò vui mừng của các sĩ quan OSS. Tuy nhiên, vào thời điểm lũ cáo lên bờ, phần lớn sơn trên lông chúng đã trôi sạch, cũng trong vòng vài phút lên bờ biển, các con vật đã liếm sạch phần sơn còn sót lại. Rốt cuộc, khái niệm “cáo thủy sinh” đã bị phá sản.

Nếu chiến dịch Hồ Ly Tinh được tiến hành thì lũ cáo phải được thả lên bờ biển Nhật. Nhưng thách thức lớn nhất mà Ed Salinger dự đoán là muốn thành công lũ cáo phải đi thành bầy. Theo kiến thức mà Salinger biết: chưa từng ai huấn luyện loài cáo cả. Cái gì sẽ giúp lũ cáo ở gần con người và ngăn chúng chạy tán loạn khi xảy ra giao tranh vang tiếng súng? Giải pháp của Salinger rất đơn giản: càng đông càng lợi thế. Trong bản ghi nhớ gửi cho OSS, Salinger viết: “Nếu lũ cáo được thả theo bầy lớn chí ít một số con sẽ đạt mục đích”. 

Nhưng nếu lũ cáo bị thất bại, thì Salinger sẽ thả lũ chồn, chuột xạ, gấu trúc Mỹ và chó sói đồng để tiếp tục nhiệm vụ. Ý tưởng của Salinger càng trở nên quái đản hơn. Trong một bản ghi nhớ của OSS mới được tìm thấy tại Trung tâm giáo dục và di sản quân sự ở Pennsylvania, Salinger viết rằng “nếu cần kíp thì có thể áp dụng truyền thuyết Hồ Tinh để khiến người Nhật khiếp vía”.

Theo ý tưởng của Salinger thì “Hồ Tinh là một con cáo đội đầu Thần Chết trên vương miện của nó”. Salinger viết: “Chúng tôi đã tạo ra một con cáo nhồi bông có sọ người, và một loại máy có thể nâng lên hạ xuống quai hàm nhằm mô phỏng cơ chế đóng, mở miệng người. Con cáo sẽ được đưa đi sơn phát sáng nhằm tạo hiệu ứng như những con cáo sống”. 

Salinger gợi ý quấn quanh thân con cáo bằng một thứ vải đen có kèm hình vẽ những khúc xương phát sáng, và treo con cáo giả dưới bong bóng khi bay trên trời hoặc treo dưới con diều, khi bay lên chúng sẽ gây sự khiếp đảm với người Nhật bên dưới. Từ dưới mặt đất, người Nhật ngước mắt lên trời sẽ thấy nhửng con cáo bay phát sáng hình bộ xương người, với cái đầu và hàm răng đóng mở như đang nói.

Kế hoạch bị hủy

Trong một bản ghi nhớ mang tựa đề “Người mang hồn cáo” gửi cho OSS, Salinger viết “Trong trường hợp nhìn thấy những con cáo phát sáng, người dân Nhật có thiện cảm với phe Đồng Minh cũng có thể giả vờ hùa theo có ai đó đang “nhập hồn” cáo, người này sẽ tụng những câu kinh kỳ lạ như lời cáo “mách nước”. 

Salinger từng cảnh báo với Bộ phận lập kế hoạch của OSS rằng việc tạo ra hiện tượng “đoàn quân người nhập hồn cáo” mới chỉ đang ở giai đoạn lập kế hoạch: “Có nhiều khó khăn cần phải vượt qua trước khi kế hoạch đưa vào triển khai thực tiễn”. Nhưng, vào ngày 24 tháng 9 năm 1943, ông Stanley Lovell, người đứng đầu Nhánh phát triển và nghiên cứu của OSS – đơn vị chịu trách nhiệm giám sát việc triển khai Chiến dịch Hồ Ly Tinh, đã tuyên bố trong một cuộc họp rằng đã chấm dứt kế hoạch.

Một ngôi miếu thờ Hồ Ly Tinh ở cố đô Kyoto (Nhật Bản). Ảnh nguồn: 123RF.com
Một ngôi miếu thờ Hồ Ly Tinh ở cố đô Kyoto (Nhật Bản). Ảnh nguồn: 123RF.com

Lovell đang rất hoài nghi khi không tài nào hiểu nổi việc không có bất kỳ ai đặt ra tính logic, tính khả thi hay sự hợp lý của chiến dịch. Lovell đã phát biểu với các đồng nghiệp của mình: “Tôi tin rằng đây là bài phê bình cho tất cả chúng ta về lĩnh vực lý luận thuần túy”. 

Ông Lovell đã tạo nên danh tiếng cho mình ở OSS khi theo đuổi các ý tưởng lập dị chẳng hạn làm cho bộ ria của Adolf Hitler rụng trụi bằng cách trộn hormone sinh dục nữ vào rau củ mà ông ta ăn, vì ý tưởng này là Lovell còn có biệt danh là “Giáo sư Moriarty”, nhưng độ phi lý của Chiến dịch Hồ Ly Tinh đã vượt qua sức chịu đựng của ông. 

Biên bản kết thúc cuộc họp của OSS đã diễn ra gần lúc kết thúc chiến tranh, hé lộ một trạng thái nhẹ nhõm đối với những người tham dự, bao gồm cả Lovell, khi OSS hủy dự án kỳ lạ. OSS kết luận: “Vấn đề Chiến dịch Hồ Ly Tinh đã kết thúc thích hợp”. Khi Wild Bill Donovan nói với OSS về cách thức để “đánh bại Đức Quốc xã và quân phiệt Nhật”, theo nghĩa đen, phải chăng ông ta đã có một suy nghĩ khác?

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.