Chỉ vì chưa...nổi tiếng

Khoảng cuối năm 1979, trong một chuyến đi công tác cùng nhạc sĩ Thế Dương, tôi ngẫu hứng viết được một bài thơ lấy tiêu đề "Hoa san hô". Tôi gửi bài thơ đến tòa soạn báo Hải quân. Gửi hú họa vậy chứ không nghĩ sẽ được đăng...

Thi ca không phải là sở trường của tôi. Không ngờ ít ngày sau, nhạc sĩ Thế Dương cầm một tờ báo Hải quân ấn vào tay tôi, nói: "Hoa san hô" đăng rồi. Khao đi. Còn tớ thì chúc mừng cậu bằng cách sẽ phổ nhạc bài thơ này, đồng ý không?". Hồi ấy tôi mới 26 tuổi, đang chập chững những bước chân đầu tiên đến với văn học, được một nhạc sĩ có tiếng tăm của Quân chủng như Thế Dương đặt vấn đề phổ nhạc thơ mình là một diễm phúc quá sức tưởng tượng, còn lăn tăn gì nữa mà không gật.

Thế Dương trải tờ báo có in bài thơ của tôi xuống bàn, chân dậm dậm lấy nhịp, miệng xướng âm, tay ghi ghi chép chép nhoay nhoáy các ký hiệu trên khuông nhạc. Ông phổ nhạc bài thơ "Hoa san hô" ngay tại căn phòng tôi đang ở. Chỗ nào thấy có vẻ còn "ngang ngang" chưa hợp với lời thơ, tôi còn tham gia với ông chỉnh chang lại. Cuối buổi, ca khúc đã xong phần cơ bản. Những ngày sau, ông tiếp tục nhuận sắc thêm.

Vào đúng dịp kỷ niệm lần thứ 16 ngày Hải quân nhân dân đánh thắng trận đầu (5/8/1964 - 5/8/1980), tạp chí Văn nghệ Quân đội in bản nhạc phổ thơ này. Bên Đài Tiếng nói Việt Nam thì "Hoa san hô" cũng được dàn dựng cho hai ca sĩ Tiến Thành và Tuyết Thanh song ca.

Năm 1982, tôi và nhà thơ Trần Đăng Khoa được Quân chủng cho lên Hà Nội ôn thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du. Học hết năm thứ nhất, nhà trường gửi Trần Đăng Khoa sang Liên Xô học Trường Viết văn Gorky. Năm 1986, tôi tốt nghiệp, trở về Quân chủng Hải quân. Lúc này những người bạn viết cũ ở đây đã mỗi người một nơi. Trần Đăng Khoa vẫn học bên Liên Xô. Đình Kính đang chờ nghỉ chế độ. Lê Thế Hiếu đã mất. Họa sĩ Bằng Lâm thì chuyển lên Hà Nội... Tôi đang trong tâm trạng trống vắng thì ông đại tá chủ nhiệm Nhà văn hóa Quân chủng, cấp trên trực tiếp của tôi, gọi tôi lên gặp. Ông vốn xuất thân là một nhạc công violin Đoàn Văn công Tổng cục chính trị, hiểu giới nghệ sĩ. Ông quý mến chúng tôi và quản lý chúng tôi rất thoáng. Ông bảo, trong lúc tôi chờ nhận nhiệm vụ mới, ông cho tôi đi theo Đoàn Nghệ thuật của Quân chủng, vừa để xả hơi sau những năm đi học xa, vừa cho quen việc, lấy lại cảm hứng về biển, đảo và những người lính Hải quân mà viết. Thế là hôm sau, tôi leo lên ôtô cùng Đoàn Nghệ thuật rong ruổi về phía vùng biển đông bắc.

Nơi đầu tiên chúng tôi dừng lại biểu diễn là một quân cảng của Lữ đoàn tàu chiến đấu. Quân cảng này ngự trong một eo biển nước sâu gần thị xã Hòn Gai, tức thành phố Hạ Long bây giờ. Sân khấu dựng ngay sát mép cảng để những thủy thủ trực chiến dưới tàu cũng có thể ngồi trên boong xem được. Giống như chương trình biểu diễn của nhiều đoàn văn công quân đội khi ấy, đoàn chúng tôi cũng biểu diễn những bài hát, những bài thơ, vở kịch về quân chủng, quân đội, về quê hương đất nước. Khi biết trong chương trình có bài "Hoa san hô", tôi cứ phấp phỏng hồi hộp mong chờ. Nhưng khi đến phần trình diễn ca khúc ấy thì cô dẫn chương trình lại giới thiệu: "Sau đây là bài hát "Hoa san hô", nhạc Thế Dương, phổ thơ Trần Đăng Khoa".

Dù có hơi chạnh lòng, nhưng tôi cho rằng, có thể cô dẫn chương trình vì bối rối chuyện gì đó nên giới thiệu nhầm tên tôi thành Trần Đăng Khoa. Tôi im lặng chờ xem buổi biểu diễn tối mai cô có nhầm như thế nữa không. Sự thể vẫn y như đêm trước. Tôi đứng dậy đi đến bên anh TL, một thiếu tá có thâm niên phụ trách đoàn, nói: "Lời bài hát "Hoa san hô" là của Nam chứ sao lại giới thiệu là của Khoa, hả anh?". TL xua xua tay: "Cậu cứ bình tĩnh, để tôi giải thích sau".

Đêm ấy khi mọi người đã ngủ say trong những gian lán tường ghép phên nứa mái lợp tranh lúp xúp trên một sườn đồi thoai thoải ven biển, anh TL mới giải thích cho tôi cái lý do hoán vị tên người viết lời bài hát "Hoa san hô". Thì ra cách đó mấy hôm, Đoàn Nghệ thuật Hải quân ra một hòn đảo nhỏ biểu diễn. Tàu vừa cập bờ đá, những người lính canh giữ đảo đã ùa ra: "Nhà thơ Trần Đăng Khoa có ra không?", "Đâu, Trần Đăng Khoa đâu?"...

Hồi ấy, biết Khoa đã trở thành đồng đội, từng ra các đảo thâm nhập thực tế làm thơ, nên anh em cho rằng hẳn Trần Đăng Khoa cũng sẽ theo tàu ra với đảo của họ chuyến này. Họ nôn nóng muốn gặp anh, xem con người anh mặt ngang mũi dọc ra sao mà thơ phú ngộ nghĩnh tài tình đến thế. Sau những tiếng hỏi nhao nhao mà không thấy có Trần Đăng Khoa, họ túm lấy áo đoàn trưởng TL giật giật, trách móc, kiểu như "bắt vạ". TL đành phải nói với họ: "Hiện nay nhà thơ Trần Đăng Khoa đã sang nước ngoài học, người bằng xương bằng thịt không ra đây thì thơ văn của anh ấy ra đây với anh em là cũng được chứ?". Nghe TL nói thế, những người lính đảo mới nguôi ngoai... Còn TL, sau khi hứa với anh em xong thì lại thấy lo, bởi trong chương trình biểu diễn đợt này không có tiết mục nào của Trần Đăng Khoa, mặc dù thời điểm đó Khoa đang rất nổi tiếng với chùm thơ viết về biển đảo được giải thưởng báo Văn nghệ: "Chút thơ tình của người lính biển", "Lính đảo hát tình ca trên đảo", "Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn". Trong ba bài đó thì "Chút thơ tình của người lính biển" cũng đã được một nhạc sĩ nổi tiếng ở Hà Nội phổ nhạc, nhưng Đoàn Nghệ thuật Hải quân chưa kịp có nhạc bướm trong tay để dàn dựng.

TL suy tính: Hay là cho một diễn viên tập ngâm gấp một bài thơ của Trần Đăng Khoa để biểu diễn tối nay, đáp ứng mong mỏi của anh em lính đảo? Xem nào. Bài "Chút thơ tình của người lính biển" sao cứ lặp đi lặp lại cái câu "Biển một bên và em một bên" như thế? Lính biển đảo thì làm gì có em ún kè kè bên cạnh? Lãng mạn quá thể, "sáng tác" ra như thế là không ổn rồi! Bài "Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn" thì lại có những câu: "Úp miệng vào tay, chúng tôi sẽ cùng gào/ Như ếch nhái uôm uôm khắp đảo", tả người lính cách mạng như ếch nhái thì không thể chấp nhận được! Coi bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" xem nào: "Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc/ Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu/ Nước ngọt hiếm không lẽ dành gội tóc/ Lính trẻ lính già đều trọc tếu như nhau"... càng không ổn! Thôi thì đã trót hứa với anh em rằng hôm nay có tác phẩm của Trần Đăng Khoa thì ta đành phải hoán đổi, mượn lời bài hát "Hoa san hô" của Lê Hoài Nam thành của Trần Đăng Khoa vậy. Nam và Khoa chơi thân với nhau lắm, dễ thông cảm thôi. Vả chăng, người lính với hoa san hô là hình tượng đẹp! TL bảo cô dẫn chương trình đưa tờ in danh sách những tiết mục để ông chữa tên Lê Hoài Nam thành Trần Đăng Khoa. Thế là tối hôm đó, cặp song ca trình diễn "Hoa san hô" được anh em lính đảo hoan nghênh nhiệt liệt. Từ hôm ấy đến nay, anh TL bận quá, chưa kịp chỉnh sửa, trả lại đúng tên người viết lời bài hát ấy...

Anh TL xin lỗi tôi, rồi bảo: "Cậu thông cảm. Chỉ vì anh em lính đảo họ quá mê Trần Đăng Khoa... Với lại, dù sao Khoa nó cũng nổi tiếng hơn cậu".

Sau này, khi Trần Đăng Khoa về nước, nhiều lần chúng tôi gặp nhau, nhưng tôi cũng không nói cho anh biết việc đó, vì cho rằng nó là chuyện nhỏ, vui vui của đời lính. Còn hôm nay tôi viết báo kể chuyện này chẳng qua cũng chỉ là muốn nhắc lại một thời chúng tôi sống có quá nhiều điều để vui, để buồn, để yêu và để nhớ.

Hà Nội, tháng 8/2010

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.