Chi tiết văn học trong một cuốn sử thời Trần

Đó là cuốn "Đại Việt sử lược", một tác phẩm sử học nhưng giàu tính văn học, tác giả khuyết danh đời Trần ra đời thế kỷ XIV (khoảng sau năm 1377) ghi chép các sự kiện lịch sử từ buổi đầu, rõ hơn cả là từ thời Triệu Đà, Ngô, Đinh, Tiền Lê, cho đến việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh mở đầu triều đại nhà Trần.

Chi tiết văn học là các sự kiện, tình tiết mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng để tạo nên hình tượng nghệ thuật sinh động, gợi cảm. Sức hấp dẫn của tác phẩm sử học này được người đời sau đánh giá cao một phần là nhờ tác giả chọn được những chi tiết đắt giá nói lên cái hồn, cái bản chất của sự kiện.   

Đầu thời Trần, Phật giáo còn mạnh, tham gia cùng chính quyền vào việc quản lý xã hội nhưng tinh thần dân chủ khá cởi mở đã làm xuất hiện cả những tiếng cười giải thiêng Phật giáo. Không ngẫu nhiên nhiều nhà nghiên cứu thường dẫn ra chi tiết trong chính sử về Tuệ Trung Thượng Sỹ được em gái (Thái hậu) mời ăn cơm, trong mâm có thịt ông vẫn ăn bình thường, em gái ngạc nhiên hỏi anh đã theo Phật thì ăn thịt sao thành Phật được.

Tuệ Trung thản nhiên đáp: "Phật là Phật, anh là anh. Anh không muốn là Phật, Phật chẳng muốn làm anh". Đó là chi tiết đắt giá để xem xét tác phẩm văn học cũng như sử học thời Trần không thể không tính đến yếu tố dân chủ khá rõ này. Đó còn là sự coi trọng cá tính, cái tôi cá nhân bắt đầu được chú ý, đề cao.

"Đại Việt sử lược" rất quan tâm đến đạo làm vua, như muốn đưa ra những răn dạy với các vị vua về sau qua những bài học của các đời vua trước. Ví dụ chung quanh vua Lê Ngọa Triều thì các chi tiết đưa ra đều nhằm mục đích lên án vị vua này là hiện thân của loài quỷ dữ: "Vua thích giết. Người ta bị tội hình, vua sai quấn rơm vào người rồi thiêu chết, lại sai tên hề Liêu Thủ Tâm dùng dao cùn để mổ người cho lâu chết. Như thế độ vài ngày, người bị tội kêu la thảm thiết, Thủ Tâm nói khôi hài: "Mày không quen chết". Vua cười lớn, lấy làm vui…".

Cuốn "Đại Việt sử lược", một tác phẩm sử học giàu tính văn học.
Cuốn "Đại Việt sử lược", một tác phẩm sử học  giàu tính văn học.

Những chi tiết "thích giết" của ông vua này như là sự cảnh tỉnh phải tránh xa cái ác, cái tàn bạo. Đừng như Ngọa Triều phi nhân tính, lấy cái chết của người làm cái "vui" của mình. Đó là những chuyện quái đản, vua sai áp tải tù binh ra bờ sông rồi cho đóng chuồng ở dưới nước, khi nước triều rút xua tù vào đó để khi nước triều lên, tù binh ngớp ngáp mà chết ngạt. Vua còn bắt người trèo lên cây cao, rồi sai chặt cây cho đổ xuống. Thậm chí, sai người dắt trâu bò đến để tự tay vua đâm chết rồi mới giao cho nhà bếp làm thịt.

Lại có chi tiết vua róc mía trên đầu sư (Quách Mão) rồi giả vờ lỡ tay, làm đầu sư bị thương chảy máu, vua cười lớn. Lại có những chi tiết rùng rợn khó tin như đang đêm khuya, vua sai giết mèo bán cho các tước vương ăn. Khi họ ăn xong, vua giơ đầu mèo lên cho xem, các vương sợ hãi mà đều nôn mửa…

Tác phẩm đã xây dựng nhân vật lịch sử bằng thi pháp văn học, cụ thể là sử dụng nguyên tắc "quỷ hoá" một cách triệt để. Ông vua này không hề còn là "vua", mà đã trở thành "quỷ". "Quỷ" thích xem giết và trực tiếp giết với những kiểu kỳ lạ, tàn bạo nhất. "Quỷ" vui khi thấy người chết ở trạng thái đau đớn nhất. "Quỷ" thích hại người. "Quỷ" thích tự tay đâm chết sinh linh. "Quỷ" thích doạ người bằng những tình huống oái oăm khó ngờ nhất…

Chỉ nguyên tắc "quỷ hoá" này mới tương ứng với tình huống "lộn ngược": vua lộn ngược thành quỷ dữ. Vì thế chi tiết nào cũng ngược đời: quấn rơm đốt người; dùng dao cùn mổ người cho lâu chết; bắt người chết ngạt nước; vua tự tay giết lợn trâu; róc mía trên đầu sư (tức coi đầu sư là thớt); cho các vương ăn thịt mèo rồi doạ…

Qua những chi tiết ấy đã cho thấy một hoàn cảnh xã hội phi nhân tính, cả triều đình ấy cũng bị "vật hoá" cả, chắc chắn sớm muộn cũng tiêu vong. Tác phẩm như muốn đưa ra một nhận định phổ quát: một chế độ có vua "quỷ" thế kia tất yếu sẽ bại vong một cách thảm hại nhất.

Tiếng cười trong "Đại Việt sử lược" sắc sảo với bút pháp khá hiện đại, cách miêu tả linh hoạt mà ngắn gọn, hóm hỉnh mà tinh tế. Miêu tả sự kiện năm 1148, tác phẩm đi tìm các mối quan hệ phức tạp. Anh Vũ tư thông Thái hậu bị phò mã Dương Tự Minh và Điện tiền Vũ Đái bắt trói. Thái hậu đem vàng hối lộ Vũ Đái tha cho Anh Vũ. Tự Minh giận dữ mắng: "Điện tiền là Vũ cứt chứ không phải Vũ Đái!". Nói rồi đâm đầu xuống giếng tự tử.

Quả nhiên về sau Anh Vũ giết hết những người đã bắt hắn, kể cả Vũ Đái. Tiếng cười đau đớn cho Vũ Đái vì tham của mà chết, cao hơn còn châm biếm những kẻ hám lợi, vì một chút ích kỷ mà làm hỏng cả đại nghiệp của bao người. Tiếng cười còn hướng tới bọn Anh Vũ, Thái hậu dâm loạn đã làm ô uế nơi cung cấm, bất chấp đạo lý.

Mỉa mai Anh Vũ, kẻ vũ phu tàn ác, giết cả ân nhân đã cứu sống hắn. Về hình thức, tiếng cười nổi rõ hơn khi tác giả chơi chữ trong lời nhân vật để mỉa kẻ đáng cười cũng là kẻ đáng thương, đáng giận là Điện tiền Vũ Đái: "Vũ cứt chứ không phải Vũ Đái!".

Tác phẩm hướng sự phê phán vào ngôi vị cao nhất là vua, dùng những chi tiết của tiếng cười để bóc trần những hào nhoáng quân vương giả dối bên ngoài để làm trơ ra những gì đáng chê nhất, đồng thời cũng hướng vào đám quan lại phơi bày những tính cách hèn hạ thảm hại. Năm 1206, nước bị loạn mà vua Cao Tông (lên ngôi 1175) vẫn ăn chơi vô độ.

Tháng 10 năm ấy trời hạn: "Nhà vua bảo tả hữu rằng: "Ai có thể làm nước sông dâng lên chảy tràn vào trong hồ thì ta sẽ hậu thưởng". Chỉ cần qua câu nói này cũng cho thấy là vua mà lại có sự nhận thức quá kém cỏi về tự nhiên đến vậy. Sự ngu dốt càng rõ hơn khi có kẻ nịnh thần là Trần Túc thưa rằng: "Tôi làm được việc ấy", vua cũng cho làm. Tất nhiên là không bao giờ được.

Nói về sự vô trách nhiệm của người "thay trời chăm sóc dân" thì chi tiết sau là nổi bật. Một hôm vua đi chơi, nghe ngoài thành có kẻ kêu la vì bị cướp, mải chơi vua cứ giả vờ không nghe thấy. Nói về tính nhát của "người đứng đầu thiên hạ" thì chi tiết sợ sấm là đích đáng. Mỗi khi sấm động thì vua lấy làm kinh sợ lắm. Có tên cận thần là Nguyễn Dư tự xưng là có thuật "hành phục" (làm im) được tiếng sấm, vua cũng cứ tưởng thật…

Thế là chân dung một vị vua hiện lên thật sinh động, khách quan: độc ác, ngu dốt, hèn nhát, đần độn. Còn bọn nịnh thần cũng chỉ đáng là trò cười, u mê, rỗng tuếch, khoác lác. Tác phẩm đã cười cả một thời đại, một triều đại hơn là cười một con người, một vài người như muốn khẳng định sự "tống tiễn" cái chính thể cực kỳ thối nát ấy là đúng quy luật lịch sử.

Đưa ra những câu chuyện nhỏ với chi tiết chọn lọc mang tính khái quát khá cao, tác phẩm cho thấy cả một bối cảnh xã hội thời Lý đạo Phật thịnh trị, chịu ảnh hưởng của phái Mật tông khá nặng. Phật giáo ảnh hưởng tới triều chính, muốn chi phối đến cả nhà vua.

Điều này trái với lập trường "bài Phật" của tác giả, được thể hiện trong câu chuyện giàu sắc thái tiếng cười sau: "Có một nhà sư người xứ Tây Vực (vùng Trung Á, Bắc Ấn) tới. Vua (Cao Tông) hỏi sư biết làm phép gì. Sư trả lời: biết giáng hổ. Vua sai đưa sư về nhà công quán nghỉ, và sai người bắt hổ đến để thử pháp thuật. Hơn một tuần sau, sư nói hổ ấy có thể phục được rồi. Vua bèn sai làm chuồng ở gác Vĩnh Bình, rồi bảo sư vào đó. Sư đi rón rén bước một, vừa đi, vừa niệm chú, tiến về phía hổ, lấy gậy cốc vào đầu nó. Hổ chồm lên vồ lấy gậy.

Sư nhân thế bèn tâu với vua rằng: "Có kẻ ác đã giải mất phép mầu. Xin lại để tụng niệm cầu Phật thêm nữa rồi sau đó sẽ thi thố pháp thuật". Vua nghe lời. Sư cầu đảo mãi, lâu lắm, nhưng vua cứ muốn thử đến cùng. Một hôm, vua lại bảo sư tiếp tục. Hổ bèn nhảy chồm lên. Sư sợ hãi, lùi lại, không biết làm thế nào được, bèn đứng tựa vào chuồng mà chết".

Câu chuyện là một bi hài kịch, có cao trào, thắt nút, mở nút. Tiếng cười đủ cung bậc hài hước, chế giễu, châm biếm, mỉa mai nhà sư khoác loác phải trả giá bằng cả mạng sống của mình. Hài hước ở chỗ nói khoác biết giáng hổ. Châm biếm ở chỗ đã không biết gì mà dám đi vào chuồng trêu hổ, đã vậy vẫn tiếp tục lừa dối bị "giải mất phép mầu" và xin "cầu đảo" làm kế hoãn binh. Cuối cùng phải chịu chết thảm hại. Ý nghĩa phổ quát của câu chuyện là răn dạy người đời phải biết chín chắn, đừng khoác loác kẻo hại cả đến tính mạng. Tiếng cười chủ yếu hướng đến nhà Phật, "tầm thường hoá" hạ bệ, "giải thiêng" nhà Phật.

Là sách chép sử nhưng tác phẩm lại thường sử dụng cốt truyện gay cấn để đưa nhân vật vào tình huống thử thách cho chúng bật ra bản chất con người thật. Ở câu chuyện "giáng hổ" trên cũng là sự tạo ra thử thách cho nhân vật nhà sư. Những chi tiết này cho phép ta liên tưởng đến truyện cười dân gian "Đẻ ra sư" (có thể ra đời trong thời kỳ này), cũng có nhân vật là sư, cũng có tình huống thử thách (nhưng ngẫu nhiên là nhiều hơn), cũng có những chi tiết rất gợi, nhà sư gặp người đàn bà chửa giữa sông đúng lúc con cua cắp vào chỗ kín.

Nhà sư buộc phải cứu (thế mới đúng mới giáo lý "cứu độ chúng sinh") nhưng không thể cho tay vào chỗ "ấy"… vì "phạm luật" không được gần gũi đàn bà chưa nói tới chuyện đưa tay vào nơi "ô uế"! Sắc điệu mỉa mai nhà Phật của dân gian rõ hơn và ác hơn: người đàn bà "đẻ" ra sư!!!

Thì ra chi tiết nghệ thuật không chỉ có ở văn học mà sử học, triết học, mỹ học đều cần. Nhờ thế mà chất đời tươi mát hơn, thuyết phục hơn, thấm và ngấm hơn. Đó cũng là bài học cho việc viết và học sử, triết, mỹ hôm nay.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.