Nhạc sĩ Huy Du:

Cây nhạc đại ngàn mãi xanh

Sinh thời, nhà thơ Thụy Kha gọi nhạc sĩ Huy Du là “Cây nhạc mãi xanh" bởi âm nhạc và cuộc đời ông đã song hành cùng đất nước qua một thế kỷ. "Cây nhạc" ấy bám rễ sâu trong đất Kinh Bắc, lớn lên giữa Hà Nội, trưởng thành trong những năm tháng chiến tranh và không ngừng vươn những cành xanh về phía tương lai. Điều làm nên sức sống của Huy Du không chỉ nằm ở những ca khúc quen thuộc với nhiều thế hệ mà còn góp phần mở rộng diện mạo của âm nhạc cách mạng Việt Nam, một tiếng nói hào sảng, giàu chất sử thi, vừa trữ tình, nhân văn…

1.Nhạc sĩ Huy Du sinh ngày 1/12/1926 tại Tân Chi, Tiên Du, Bắc Ninh. Lên 3 tuổi, ông chuyển lên Hà Nội sinh sống. Hai không gian văn hóa ấy đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong thế giới nghệ thuật của ông. Nếu Kinh Bắc đem đến cho Huy Du những câu quan họ, những làn điệu chèo, ca trù, chầu văn và một vốn văn hóa dân gian giàu sức sống, thì Hà Nội lại mở ra trước mắt ông một thế giới âm nhạc rộng lớn hơn, nơi những thanh âm truyền thống gặp gỡ với âm nhạc phương Tây và đời sống đô thị hiện đại.

Ông đến với âm nhạc từ sự say mê và khả năng tự học. Sự kiện lớn trong cuộc đời khi ông được sở hữu chiếc vĩ cầm mà ông hằng mơ ước. Thời đó vẫn còn quan niệm "xướng ca vô loài" và cha ông, một nhà nho không quan tâm đến những sở thích của con, nhưng ông đã mua được cây vĩ cầm từ tiền tích cóp được. Đó là một cây đàn bị nứt được dán lại, nhưng đã dẫn lối cho ông đi vào con đường âm nhạc. "Chẳng có tiền học thầy, tôi học qua bạn bè, sách vở, từ những bài tập đơn giản đến những bài khó hơn và rồi cũng đến lúc ông kéo được giai điệu của những bài hát trữ tình mà ông yêu thích".

1b1.jpg
Nhạc sĩ Huy Du thời trẻ

Có lẽ chính con đường đến với âm nhạc ấy đã tạo cho ông một phẩm chất đặc biệt: luôn tò mò, luôn muốn khám phá và không bằng lòng với những giới hạn đã có. Năm 1944, Huy Du tham gia Thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu, rồi tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Năm 1956, dù đã có những sáng tác được chú ý và yêu thích như "Nghe gác chuông giáo đường", "Tôi yêu hòa bình"… ông vẫn bắt đầu đi học nhạc một cách bài bản (dù lúc đó ông đã là thầy dạy nhạc cho các thiếu sinh quân và làm Trưởng đoàn Văn công Quân đội). Ông được cử đi học nhạc tại Nhạc viện Bắc Kinh trong 6 năm (từ 1956 đến 1962).

Là người chiến sĩ - nghệ sĩ, sống giữa những con người đang chiến đấu và viết về chính cuộc sống ấy nên trong âm nhạc Huy Du, hình ảnh người lính rất gần gụi. Họ hiện lên với những bước chân, nỗi nhớ, tình yêu, khát vọng và cả những phút giây rất đời thường. Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ, tên tuổi Huy Du gắn với hàng loạt ca khúc đã trở thành một phần ký ức âm nhạc của nhiều thế hệ: "Đường chúng ta đi", "Anh vẫn hành quân", "Cùng anh tiến quân trên đường dài", "Tình em", "Đêm Trường Sơn", "Bế Văn Đàn sống mãi", "Nổi lửa lên em", "Trên đỉnh Trường Sơn ta hát", "Việt Nam ơi, mùa xuân đến rồi"… Điều quan trọng hơn là qua thời gian, những tác phẩm ấy đã vượt khỏi hoàn cảnh ra đời để trở thành một phần ký ức âm nhạc của dân tộc.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Châu nhận xét: "Âm nhạc của Huy Du có sự hòa quyện giữa chất anh hùng và chất trữ tình. Đây có thể xem là một chìa khóa quan trọng để lý giải sức hấp dẫn của ông. Bởi ông không chỉ viết về chiến thắng. Ông viết về con người đang đi qua chiến tranh. Vì thế, những bài hát của ông vừa có tầm vóc của thời đại, vừa có độ rung của tâm hồn". Những ca khúc ra đời từ một thời điểm lịch sử cụ thể đã dần trở thành ký ức tinh thần của nhiều thế hệ.

Nhưng những sáng tác của ông không chỉ ở mảng ca khúc, ông còn quan tâm đến khí nhạc, đến cấu trúc, hòa thanh, màu sắc âm thanh và đặc biệt coi trọng giai điệu - yếu tố theo ông có khả năng quyết định sức sống của một tác phẩm. Ông có hai tác phẩm nổi tiếng: "Kể chuyện sông Hồng" viết năm 1960 và "Miền Nam quê hương ta ơi" cho thấy khả năng khai thác màu sắc âm nhạc Việt Nam kết hợp những chất liệu mang âm hưởng âm nhạc bác học. Những tìm tòi ấy cho thấy Huy Du không chỉ là một nhạc sĩ của những ca khúc thời chiến, ông còn là người có ý thức về việc làm giàu ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam bằng sự tiếp nhận có chọn lọc những thành tựu của âm nhạc thế giới. Hai tác phẩm của ông được con trai, nhạc sĩ Huy Phương biểu diễn ở nhiều phòng hòa nhạc nổi tiếng thế giới.

Nếu chiến tranh đưa Huy Du đến với những không gian lớn của đất nước thì những năm tháng sau này lại giúp ông trở về gần hơn với những điều riêng tư. Những sáng tác như "Hoa mộc miên", "Tình em" từng cho thấy một Huy Du trữ tình ngay giữa những năm tháng chiến tranh. Nhưng khi tuổi đời đã đi qua nhiều chặng đường, ông lại muốn tìm về "chất tình ca nguyên thủy" của mình. Những ca khúc sau này vì thế mang nhiều suy tư hơn về thời gian, ký ức và những điều riêng tư của con người. Đó là một hành trình đáng suy ngẫm: từ quê hương đến đất nước, từ chiến tranh đến hòa bình, từ những âm thanh lớn của thời đại trở về với những rung động nhỏ bé của một con người. Có lẽ chính ở đó mà giá trị của Huy Du được nhìn thấy rõ nhất. Ông không chỉ để lại những ca khúc nổi tiếng mà còn là thái độ đối với nghề: "Hãy sống sâu với thời đại mình đang sống và không ngừng tìm kiếm tiếng nói riêng; viết cho cuộc đời, nhưng không đánh mất con người bên trong mình. Một ca khúc đã bước vào đời sống, nó sẽ có đời sống riêng; sức sống lâu dài của nó được quyết định bởi chính đời sống" - ông chia sẻ.

1c1.jpg
Tác phẩm “Nổi lửa lên em”, một trong những bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Huy Du

2.Nhìn lại cuộc đời và những đóng góp của cha, nhạc sĩ Huy Phương nói: "Cha tôi là người may mắn đã được đi trọn hành trình sống và cống hiến cho đất nước. Ông là một trong số ít nghệ sĩ đã sống qua nhiều giai đoạn lịch sử, biến thiên của thời cuộc nhưng vẫn giữ được tinh thần sáng tác mạnh mẽ và tình yêu hồn hậu với cuộc đời. Âm nhạc của ông rất con người; những lời ca giản dị, chân thật; trải qua nhiều khó khăn, chiến tranh mà ông luôn lạc quan, yêu quê hương đất nước, con người. Ông luôn nhìn thấy cái đẹp từ những điều bình dị nhất của cuộc sống".

Những tác phẩm của ông vẫn tiếp tục được vang lên. Đó cũng là lý do hình tượng "Cây nhạc đại ngàn mãi xanh" được lựa chọn làm hình tượng xuyên suốt chương trình nghệ thuật kỷ niệm 100 năm ngày sinh Huy Du - "Đường chúng ta đi", dự kiến diễn ra vào tháng 12/2026 tại Phòng Hòa nhạc Lớn, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Một di sản âm nhạc chỉ thực sự sống khi nó tiếp tục được đối thoại với hiện tại. Vì thế, việc đưa âm nhạc Huy Du vào những không gian biểu diễn mới, kết nối giao hưởng với Rock, Pop đương đại là cách để di sản của ông tiếp tục sống trong đời sống đương đại. Từ miền ký ức Kinh Bắc đến những năm tháng chiến tranh; từ Trường Sơn khốc liệt đến cuộc sống trong hòa bình; từ những sáng tác mang âm hưởng sử thi đến những rung động riêng tư và khát vọng về một mùa xuân mới - hành trình ấy được kết nối thành một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó cuộc đời Huy Du và lịch sử đất nước không tách rời nhau. Vì thế, khán giả không chỉ nghe những ca khúc của Huy Du, mà qua những ca khúc ấy có thể nhận diện một con người, một thế hệ và một thời đại.

3. Ngôi nhà ở khu tập thể D2 Giảng Võ của gia đình nhạc sĩ Huy Du từng là một địa chỉ sinh hoạt văn hóa văn nghệ của cả một thế hệ: nhà văn Đỗ Chu, nhà thơ Đặng Đình Hưng, nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Hoàng Dương… Nhạc sĩ Huy Phương kể, bài hát "Tình em" ông phổ thơ nhà thơ Ngọc Sơn viết về tình cảm của người lính với người vợ ở hậu phương. Và điều đáng quý là sau này, khi tác phẩm nổi tiếng, ông đã tìm gặp nhà thơ Ngọc Sơn để chia đôi nhuận bút cho tác giả bài thơ. Ông và nhà thơ Ngọc Sơn trở thành những người bạn tâm giao. Sau này, các đêm nhạc của ông, nhà thơ Ngọc Sơn đều có mặt. Với Huy Du, đó là sự trân trọng đồng nghiệp và coi sáng tạo nghệ thuật là một công việc cần sự tử tế.

Có thể nói, nhạc sĩ Huy Du đã dành trọn cuộc đời mình cho âm nhạc, ông sáng tác ngay cả trong những năm tháng cuối đời khi nằm trên giường bệnh. Di sản đồ sộ ấy đang được con trai ông, nhạc sĩ Huy Phương gìn giữ và tiếp tục phát triển để trong tương lai, nhiều tác phẩm mới chưa từng công bố của ông tiếp tục được vang lên.

Mỹ Trân

Các tin khác

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.