Câu chuyện "Sai mà hay vẫn được" của nhà thơ Vũ Cao

Năm 1965, tôi vào học Trường Trung cao Cơ điện, sơ tán tại Tam Dương - Vĩnh Yên. Trong một đêm liên hoan văn nghệ cuối năm, một học sinh lên ngâm bài thơ ''Núi Đôi'' của nhà thơ Vũ Cao. Bài thơ ''Núi Đôi'' đã gây xúc động trong lòng lũ học sinh chúng tôi khi đó. Những ngày sau, chúng tôi chuyền tay nhau chép bài thơ đó vào sổ tay của mình một cách trân trọng. Tôi thầm ước một ngày nào đó được về thăm địa danh Núi Đôi, được gặp tác giả của bài thơ bất hủ đó.

Cái mơ ước thầm kín đó của tôi rồi cũng được thực hiện. Sau ngày giải phóng, không ngờ trường tôi lại về đóng ở Núi Đôi, thuộc huyện Sóc Sơn, Hà  Nội. Tôi  trở về thăm trường, con đường trải nhựa như một dải lụa uốn lượn dưới chân hai quả núi rợp bóng thông reo. Lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng một địa danh trở nên nổi tiếng nhờ bài thơ của nhà thơ Vũ Cao "…núi chồng, núi vợ đứng song đôi". Câu chuyện về cô du kích làng Phù Linh xinh đẹp đã anh dũng hy sinh trên Núi Đôi khi cô mới 17 tuổi cứ ám ảnh tôi mãi.

Những năm tháng sau đó tôi chập chững bước vào nghiệp văn nên được thường xuyên tiếp xúc với nhà thơ Vũ Cao, nhờ ông chỉ bảo, nhưng vẫn chưa có điều kiện hỏi ông về hoàn cảnh ra đời của bài thơ ''Núi Đôi''. Mãi tới năm 1998, khi ông 75 tuổi, tôi đến thăm ông tại tư gia bên hồ Hữu Tiệp, nơi còn giam giữ một xác máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi trong trận chiến mười hai ngày đêm của tháng 12/1972. Tuy đã về nghỉ hưu từ nhiều năm nhưng ông vẫn là Chủ tịch Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Ở tuổi 75 nhưng xem ra ông vẫn còn rất "tráng kiện". Mọi người vẫn thấy ông túc tắc trên chiếc xe đạp cà tàng, đầu đội cái mũ lá với dáng người cao thô trông như một lão nông tri điền bán chuối. Với giọng nói oang oang, nụ cười thoải mái hồn hậu, đôi mắt tinh anh ánh lên chất hài hước, khiến ai tiếp xúc với ông cũng cảm thấy thoải mái, ấm áp chân tình.

Sau những phút trò chuyện thân mật, tôi mới dám lựa lời hỏi ông về hoàn cảnh ra đời của bài thơ ''Núi Đôi''. Ông lặng đi đôi chút trong ánh mắt tư lự, như để nhớ lại những kỷ niệm của một thời đã xa, rồi chậm rãi kể lại cho tôi nhiều chuyện về bài thơ ở Núi Đôi.

Nhà thơ Vũ cao và vợ.
Nhà thơ Vũ cao và vợ.

Mùa đông năm 1955, Vũ Cao là phóng viên Báo Quân đội nhân dân được cơ quan cử đi theo Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 141, Sư 312 về đóng quân ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Vũ Cao ở một xóm nhỏ cách Núi Đôi khoảng 300m. Nhiệm vụ chính của Vũ Cao là viết phóng sự và bút ký về bộ đội. Phù Linh là một mảnh đất trung du nghèo, bị địch tàn phá nhiều nên phong cảnh rất tiêu điều. Người dân ở đây đang lục tục trở về nhận lại ruộng và làm lại nhà cửa. Chính tại nơi đây, Vũ Cao đã được nghe dân làng kể lại câu chuyện về cô du kích xinh đẹp, đánh giặc giỏi, đã bị bọn giặc Pháp đóng bốt trên Núi Đôi giết chết. Năm đó cô du kích trẻ mới 17 tuổi. Câu chuyện đó cứ ám ảnh Vũ Cao trong suốt thời gian đóng quân tại xã. Một buổi tối sau giờ sinh hoạt tập thể, 9 giờ tối đến giờ đi ngủ, Vũ Cao xin phép được thức để viết bài cho báo. Vì không có đèn dầu nên ông phải đổ dầu vào một cái đĩa, lấy giẻ làm bấc, khi hết lại phải nhấc bấc ra đổ thêm dầu để làm việc.

Vũ Cao chợt nhớ đến một câu thơ của Nguyễn Du "đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh", quả thật đến lúc đó Vũ Cao mới thấy hết cái hay, cái thần của Nguyễn Du qua câu thơ trên. Hình ảnh cô du kích trẻ bị giặc giết trên Núi Đôi cứ ẩn hiện trong đầu ông. Vũ Cao đã viết bài thơ ''Núi Đôi'' một lèo đến 11giờ đêm thì xong.

Về Hà Nội, Vũ Cao nộp cho tòa soạn mấy bài ký sự, còn bài thơ ''Núi Đôi'', ông để lẫn trong tập bản thảo và cũng không để ý đến nó nữa.

Năm 1957, anh em trong tòa soạn tìm thấy bài thơ ''Núi Đôi'' trong đống bản thảo của Vũ Cao và tự ý đem in trên báo. Bài thơ ''Núi Đôi'' chính thức ra mắt bạn đọc từ đó. Theo ông "Mọi tác phẩm văn học nghệ thuật là nhứng đứa con tinh thần của tác giả, đã là con mình thì mình đều yêu thương nó. Người đời có câu: "văn mình - vợ người" là thế. Không mấy người tự đánh giá chính xác được giá trị của từng đứa con do mình đẻ ra. Tôi nhớ đến nhạc sỹ Văn Cao, ông có một câu trả lời rất hay: "…tôi có nhiều con, đứa sống có, đứa chết có, đứa con này của tôi đã gần 40 tuổi, nó đã làm nên giá trị của nó, nó đã thành người. Làm sao tôi có thể phủ định nó…". Nhạc sỹ Văn Cao nói câu này trước một nhà lãnh đạo cao cấp trong một trường hợp khi người ta định thay một bài hát nổi tiếng của ông…

Sau khi bài thơ ''Núi Đôi'' ra đời, Vũ Cao nhận được rất nhiều thư khen của độc giả, đặc biệt là những người lính. Hầu như tất cả những người yêu thơ đều có bài thơ này của Vũ Cao trong sổ tay thơ của mình. Đó là phần thưởng cao nhất đối với nhà thơ. Đặc biệt có một lần, Vũ Cao nhận được một bức thư của một giáo viên dạy văn học ở Đà Nẵng dưới thời ngụy quyền Sài Gòn gửi ra cảm ơn tác giả vì "bài thơ ''Núi Đôi'' chứng tỏ cho nhân dân miền Nam thấy văn nghệ miền Bắc có tính nhân văn…".

Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong một lần sang đất Mỹ có đem về một tập thơ, tập hợp các bài thơ viết trong sổ tay, trong ba lô của những người lính (bộ đôi Việt Nam) ở chiến trường mà họ nhặt được. Nhiều bài thơ chép tay không có tên, trong đó có bài thơ của Vũ Cao được dịch là: thơ Núi Đôi. Bản dịch tuy có nhều sai sót nhưng nó khiến cho tác giả cảm động đến ngỡ ngàng khi ông nhận được 10 USD tiền nhuận bút do Phạm Tiến Duật cầm về. Ông cười sảng khoái, ánh mắt hóm hỉnh:

- Đây có lẽ là số tiền nhuận bút có ý nghĩa nhất trong đời tôi!

Hơn 20 năm sau Vũ Cao mới có điều kiện trở lại Núi Đôi trong một lần Huyện ủy Sóc Sơn tổ chức hội nghị giáo viên dạy giỏi trong huyện mời ông về dự. Vũ Cao được đón tiếp long trọng trong không khí vui vẻ và đầm ấm. Một giáo viên nữ lên đọc bài thơ ''Núi Đôi'' của Vũ Cao khiến ông bất ngờ. Ông đã từng nghe nhiều người đọc thơ của mình nhưng chưa có ai đọc thơ hay và tình cảm như cô giáo này, mặc dù có nhiều câu sai. Sau này Vũ Cao mới biết cô giáo này chính là giáo viên tiểu học người Phù Linh.

Khi gặp cô gái, Vũ Cao bảo:

- Cô đọc thơ rất hay nhưng có năm chữ sai (mặt cô gái tái đi), tôi nói thế thì nói chứ không có ý phê bình cô đâu.

- Chú ạ! Cho đến hôm nay, cháu cũng chưa hề thấy bài thơ của chú, mặc dù cháu đã được nhiều giải thưởng về đọc thơ. Cháu học truyền khẩu.

Vũ Cao bật cười vui vẻ, nói:

- Cô cứ đọc như thế, đừng sửa. Sai mà hay là được!

Bí thư Huyện ủy Sóc Sơn chỉ cho tôi xem tấm bản đồ của huyện, trên đó có ghi tên Núi Đôi. Trước kia địa danh này không có trên bản đồ.

- Nhân dân Núi Đôi cảm ơn anh. Anh là người đã đóng đinh Núi Đôi lên bản đồ của chúng tôi.

Vũ Cao cười sảng khoái, đôi mắt ông sáng lên lấp lánh:

- Thế đấy!

Kỳ Sơn, tháng 12/2014

Nguyễn Tiến Dũng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.