Câu chuyện đắp đê

Trong bộ sử "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" do các sử quan triều Nguyễn chép lịch sử nước ta từ đời Hồng Bàng đến hết đời Lê, ở dưới phần viết về việc triều Trần bắt đầu đắp đê "quai vạc", Vua Tự Đức đã phê rằng: "Một lần thất sách, để tai hại về sau không biết chừng nào!".

Ý của Vua Tự Đức về vấn đề đê điều đã thể hiện rất rõ, rằng ông phản đối việc các triều đại trước đã đắp đê phòng lụt cho hệ thống đê ở miền Bắc. Tuy nhiên, Vua Tự Đức từ khi sinh ra, lớn lên đều ở kinh thành Phú Xuân (Huế ngày nay), có lẽ những hiểu biết của ông về vai trò của hệ thống đê điều đều qua sách vở và ý kiến của các quần thần là chính.

Câu chuyện đắp đê -0
Đê sông Hồng hơn 100 năm trước. Ảnh tư liệu

Hiểu biết của triều đình nhà Nguyễn về lịch sử đê điều như thế nào? Có thể thấy điều này qua nội dung bản sớ của các vị quan phụ trách cơ quan quản lý đê điều ở Bắc Thành là các vị Đê chính thần Lê Đại Cương, Hoàng Quýnh lên Vua Minh Mạng: "Thiết nghĩ, từ đời Đinh - Lý về trước, chưa có đê phòng, dân địa phương đào giếng cày ruộng, có hại về nước lụt hay không thì chưa được rõ. Từ đầu đời Trần sai các lộ đắp đê để chống lụt, dân gian từ đấy đến những nơi thấp trũng mà nhóm ở làm ăn, cho nên các đời theo đó mà sửa đắp, xem là điều cốt yếu trong việc giữ dân và vệ nông, người ta mới nói rằng sau khi đã có đê không thể bỏ đê được nữa. Cho nên, lời bàn bỏ đê, bọn thần chưa dám chắc là định luận. Duy việc đào sông thì từ xưa đã có".

Trước đó, Vua Minh Mạng đã sai các vị quan phụ trách công việc đê chính đi điều tra, thăm dò về các biện pháp phòng lụt ở miền Bắc. Sau khi đi thăm hỏi phụ lão ở các địa phương, Lê Đại Cương, Hoàng Quýnh báo cáo kết quả, nói rằng ngoài việc đê phòng không còn cách nào khác hữu hiệu. Còn các biện pháp khác là bỏ đê cho nước lũ tự do tràn qua và khai đào dòng sông mà thôi. Quan đê chính thời Vua Minh Mạng có phẩm hàm rất cao, vì triều đình bổ quan văn hàm nhị phẩm làm Đê chính sứ, và một quan võ hàm tam phẩm làm tham biện, cho thấy triều đình coi trọng công tác này.

Ngược dòng lịch sử thì không như lời sớ của Lê Đại Cương, sử sách đã ghi việc đắp đê có từ thời Lý. "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết, đời Vua Lý Nhân Tông, năm Long Phù thứ 8 (1108), tháng 2 (âm lịch), triều đình đã tiến hành huy động dân chúng đắp đê ngăn nước sông Hồng ở phường Cơ Xá. Sang đến thời Trần, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 17 (1248) đời Vua Trần Thái Tông, vào tháng 3, nhà vua bắt đầu sai đắp đê Đỉnh Nhĩ (tức đê quai vạc, đê bao bên ngoài đê chính). Sử viết: "Nhà vua hạ lệnh cho các lộ đắp đê tự đầu nguồn đến bãi biển, để đề phòng nước sông lên to, gọi là đê Đỉnh Nhĩ; đặt chức Hà đê chánh sứ và phó sứ để trông coi đốc thúc việc đắp đê. Nếu có chỗ nào đắp vào ruộng đất của dân, sẽ tính trả tiền lại. Việc đắp đê Đỉnh Nhĩ bắt đầu từ đây".

Tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 5 (1255), "Toàn thư" cho biết Vua Trần Thái Tông tiếp tục sai Lưu Miễn đi bồi đắp đê ở sông thuộc lộ Thanh Hóa. Tháng 4 năm đó, nhà vua lại đặt chức Hà đê chánh, phó sứ, lấy các quan giữ chức nhàn tản sung bổ; hằng năm cứ khi nào làm ruộng xong, các viên ấy đốc quân đắp sườn đê và khơi các khe cừ, để đề phòng khi thủy tai hoặc đại hạn.

Việc đắp sửa đê điều từ đó được tiến hành đều đặn, duy trì sang suốt thời Lê sơ, Lê trung hưng. Như vào thời Vua Lê Huyền Tông, năm 1664, triều đình ban hành định kỳ hạn sửa đắp đê điều. Theo đó, cứ tháng 10 hằng năm, ti Thừa chính các xứ sức cho các huyện thuộc hạt đi khám đê điều, xem chỗ nào cần phải sửa đắp. Nếu là công trình nhỏ, thì chiếu theo xã nào mà thế nước có thể đến được sức cho dân các xã ấy tự làm công việc sửa đắp, việc sửa đắp này là do huyện trông coi thúc giục; nếu là công trình lớn thì hạ lệnh cho quan đôn đốc. Hằng năm, cứ thượng tuần tháng Giêng thì khởi công, đến trung tuần tháng 3 công việc đã phải làm xong. Điều này đặt làm thể lệ lâu dài.

Dù vậy, thì hiệu quả của việc đắp đê đến cuối thời Lê trung hưng đã bị suy giảm nhiều. Theo "Cương mục", đời Vua Lê Dụ Tông, năm 1711, khi chúa Trịnh Cương cho người kiểm tra việc đốc thúc dân đắp đê, thì thấy các quan ở trấn phần nhiều chỉ làm cẩu thả cho xong việc, nên mỗi năm đến mùa nước lũ, đê lại vỡ lở, dân vùng ven sông luôn bị tai hại. Do đó, triều đình mới hạ lệnh cho quan trong kinh là bọn Lê Dị Tài và Trần Công Trụ chia nhau đi đôn đốc. Dù vậy thì "công việc sửa đắp đê sau đây thêm bận rộn hơn, nhưng cũng không sao ngăn ngừa được nạn nước lụt", sử viết như vậy.

Khi nhà Nguyễn mới lên, Vua Minh Mạng là người quan tâm đến việc đê điều ở miền Bắc nhất. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), khi có một viên võ tướng thị vệ đi việc công ở Bắc Thành về, vua gọi hỏi về việc dân, nhân bảo thị thần rằng: "Việc đắp đê giữ lụt trẫm thường đến nửa đêm lo tính suy nghĩ đời sống của dân mà chưa được kế gì hay. Phàm đắp đê giữ lụt chẳng qua là tranh lợi với nước, tưởng cũng là vì địa thế khiến phải vậy thôi. Đất kỳ phụ (miền đất ở gần kinh kỳ) ở gần biển, nước lụt tràn lại rút ngay, không đê cũng được. Còn ở Bắc Thành thì địa thế phẳng rộng, nước lũ mùa thu tiến đến, nguồn xa dòng dài, không đắp đê ngăn lại thì cái nạn ngập lụt không thể tính hằng tuần được, ruộng đất nhà cửa của dân ta đều ở đấy cả. Nếu muốn dời đi nơi khác thì đi đâu được. Muốn cho tiện dân thì đê không thể bỏ được. Các đời trước đắp đê đã lâu. Nay, chi bằng nhân đê cũ mà bồi đắp thêm. Nhưng, trước khi làm cũng nên xét kỹ hình thế".

Năm 1833, Vua Minh Mạng từng ra lệnh đình chỉ việc đắp đê để chờ xem tình hình ra sao rồi mới bàn định lại. Tuy nhiên, năm 1834, vua sai Giám thành Phó sứ là Trương Viết Sùy kiểm tra lại thì ông này báo cáo lại rằng "không thể bỏ đê được".

Vua Thiệu Trị cũng có ý tưởng phản bác việc đắp đê. Theo bộ sử triều Nguyễn "Đại Nam thực lục", khi nói chuyện về việc đê điều ngay sau khi lên ngôi, nhà vua đã cho rằng: "Đắp đê để chống nhau với nước sông, cố nhiên là người xưa đã thất sách. Nhưng, sau khi đã có đê rồi, lại không thể nhất khái bác bỏ đi được, cần nên xét kỹ tình hình, châm chước theo sự thuận tiện của dân, mà phân biệt những chỗ đê nào nên bỏ, đê nào nên đắp cho xác đáng, mới là thỏa thiện".

Năm 1847, Tổng đốc Hà Ninh (cai quản 2 trấn Hà Nội và Ninh Bình) Nguyễn Đăng Giai đã đề xuất lên Vua Thiệu Trị về ý định bỏ đê sông Hồng và sẽ khai thông sông Nguyệt Đức (Sơn Tây), Thiên Đức (Hàm Long), Nghĩa Trụ (Bắc Ninh), khiến nước sông Hồng được phân lưu chảy về Đông, giảm bớt lượng nước chảy vào đồng ruộng. Sau khi bàn bạc cùng đình thần, Vua Thiệu Trị không chấp thuận đề nghị này, vì cho rằng: "Nếu nhất đán hủy bỏ đi, nước lũ chảy quanh thì chỗ cao phải đi thuyền, ở sàn, mà chỗ trũng phải bỏ làm đầm, làm vực, không biết luận điệu 'chén nước đổ vào mâm' đã là xác đáng chưa".

Vua Tự Đức là người phản bác chuyện đắp đê nhiều nhất. Năm 1852, vị vua này đã cho mở cuộc trưng cầu ý kiến về việc phòng đê ở Bắc Kỳ, các ý kiến các quan chia thành 2 phái: Giữ đê và bỏ đê. Nhóm chủ trương cứ đắp đê các sông lớn, bỏ đê sông con và sông nhỏ có Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Soạn, Nguyễn Văn Tĩnh, Nguyễn Cẩm, Bạch Tự Cường..., nhóm chủ trương giữ đê có Đặng Văn Hòa, Trương Văn Uyển, Ngụy Khắc Tuần, Nguyễn Khắc Hoan, Nguyễn Văn Siêu, Bùi Quỹ... Các ý kiến của phái bỏ đê cuối cùng vẫn chưa đủ thuyết phục được nhà vua.

Năm Tự Đức năm thứ 10 (1857), xảy ra các vụ vỡ đê nhiều lần ở Hà Nội và Bắc Ninh, nhà vua lại sai các quan bàn luận. Đình thần tâu rằng: "Hiện nay việc phòng giữ nước sông, trừ phi lại sửa đắp đê điều, thực chưa có kế sách gì khác cả. Xin tham xét lệ về khoản năm Gia Long, Minh Mạng đặt riêng sở Đê chính chuyên nha làm việc, để chuyên trách có thành hiệu mới được". Các vị quan Phạm Chi Hương, Vũ Đức Nhu lại bàn thêm rằng trong phép trị thủy thì khai sông, đắp đê nên phải làm cả hai.

Năm Tự Đức thứ 14 (1861) Giám sát ngự sử là Vũ Văn Bỉnh cũng đã tâu bàn việc phá bỏ đê ở miền Bắc, trên từ Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, dưới đến các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, không kể là đê điều của công hay của tư dân, lớn hay nhỏ, hết thảy san lại cho bằng, để cho nước sông tự do lan tràn, thuận dòng chảy xuôi xuống, thì dân ở 5 tỉnh có thể không quan ngại gì vậy. Tuy nhiên, Vua Tự Đức sai quan sở đê chính và các tỉnh thần xét tâu, đều nói là không tiện, nên việc ấy để đấy.

Đến khi thực dân Pháp bắt đầu đô hộ nước ta, họ có hệ thống chuyên gia ở Sở Thủy lợi phân tích việc thủy lợi theo phương pháp khoa học, với hệ thống số liệu và tính toán chi tiết. Khi vị Kinh lược sứ Bắc kỳ Hoàng Cao Khải nghỉ hưu trí ở Hà Nội, cũng đưa ra chủ trương giữ đê. Trong thư gửi cho Thống sứ Bắc kỳ, ông cho rằng, nếu đồng loạt bỏ hết đê, các làng mạc sẽ chìm trong nước lũ, muốn canh tác trở lại, phải chờ đến 10 năm.

Tài liệu của Hoàng Cao Khải được Thống sứ Bắc kỳ chuyển cho Sở Thủy lợi Pháp tại Hà Nội cho ý kiến. Trong tờ trình cho cấp chỉ huy, viên Chánh kỹ sư, Giám đốc Sở Thủy lợi tán đồng phần lớn quan điểm của vị nguyên Kinh lược sứ và nhận xét thêm rằng lòng sông không được bồi nhanh như người ta tưởng, nước ngày một dâng cao, chủ yếu là lưu lượng nước tăng lên do nạn phá rừng ở thượng nguồn gây ra.

Còn triều đình Huế, với sự tư vấn của các quan Pháp, đã kiên định với lập trường giữ đê. Thập niên đầu thế kỷ 20, Vua Thành Thái ban hành quy định rằng hằng năm cứ trước ngày 20 tháng 11 dương lịch, Sở Lục lộ các tỉnh đi khám đê điều trong hạt, lập biên bản trình cho công sứ Pháp liệu biện để có phương án tu bổ. Tuy nhiên, từ đó đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, miền Bắc nước ta vẫn còn chịu nhiều trận lụt lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho dân chúng. 

Lê Tiên Long

Các tin khác

Cận cảnh bên trong máy tính lượng tử Hanyuan-2. Ảnh: Quantum Computing Report

Dấu mốc mới trong cuộc đua lượng tử toàn cầu

Khi công ty CAS Cold Atom Technology của Trung Quốc công bố Hanyuan-2, hệ thống máy tính lượng tử lõi kép đầu tiên, cuộc đua toàn cầu dường như đã bước sang một giai đoạn mới. Từ Washington tới Bắc Kinh, từ Paris tới London, các chính phủ và tập đoàn công nghệ đang đổ hàng tỷ USD vào lĩnh vực sẽ định hình thế hệ điện toán tiếp theo của thế giới.

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Các cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), chính sách “xanh” với những mục tiêu quyết đoán cùng các tuyên bố mạnh mẽ của chính giới, làn sóng đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng áp lực cắt giảm khí thải carbon khiến than đá, loại nhiên liệu từng là động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp dường như đang dần bị đẩy ra bên lề.

Nhưng trước các cú sốc địa chính trị, khủng hoảng năng lượng khi nguồn cung gián đoạn, và đặc biệt là nhu cầu điện tăng vọt do tăng trưởng kinh tế cũng như sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), than đá một lần nữa được nhắc đến như giải pháp an ninh năng lượng. Liệu thế giới có thể thực sự rời bỏ than đá? Quá trình chuyển đổi xanh trên thực tế dường như mong manh hơn nhiều so với những tuyên bố chính trị?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Một trong những bước thay đổi lớn của chiến tranh trong vòng mười năm trở lại đây là sự lên ngôi của máy bay không người lái (UAV). Những chiếc máy bay cho vào vali được mà có thể đảm nhận nhiệm vụ trinh thám, tiêu diệt mục tiêu, v.v… không kém gì các loại khí tài đắt tiền. Nhờ UAV mà các lực lượng phiến quân có thể tham gia cuộc chiến trên không chứ không còn phải chịu cảnh hoàn toàn lép vế trước quân đội chính quy. Tất nhiên là việc sử dụng drone hàng loạt cũng kéo theo hoạt động phát triển vũ khí diệt drone. Nhưng sử dụng máy bay - cả loại có và không có người lái - để tiêu diệt UAV có là giải pháp hữu hiệu?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Một cuộc chiến bí mật được cho là đang leo thang mạnh mẽ dọc theo biên giới Nam Mỹ. Theo CNN và hãng thông tấn Anadolu, ngày càng nhiều thông tin và nghi vấn cho rằng CIA đang tham gia sâu hơn vào các hoạt động nhằm vào mạng lưới băng đảng ma túy tại Mexico. Những thay đổi chiến lược trở nên rõ nét hơn khi chính quyền Mỹ nhìn nhận các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia này như những mối đe dọa an ninh có tính khủng bố, qua đó mở đường cho các hoạt động tình báo và bán quân sự tinh vi hơn trên lãnh thổ nước láng giềng.

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Sau gần 80 năm trong các kho lưu trữ mật của quân đội Mỹ, hàng trăm hồ sơ về UFO (vật thể bay không xác định) vừa lần đầu được Lầu Năm Góc công khai trước thế giới. Không có “xác người ngoài hành tinh” hay bằng chứng về những cuộc đổ bộ từ vũ trụ, nhưng các đoạn phim hồng ngoại, ghi âm và lời kể của phi công đang mở ra cuộc tranh luận lớn nhất nhiều thập niên qua về những vật thể bí ẩn mà ngay cả Washington cũng chưa thể giải thích.

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

Cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy điện hạt nhân Barakah của UAE hôm 17/5 chỉ gây ra thiệt hại nhỏ. Nhưng dư chấn thì rất lớn, khi nó cho thấy ranh giới giữa một vụ tấn công “suýt trúng” với một thảm họa phóng xạ đang ngày càng mong manh, trong bối cảnh bất ổn địa chính trị bủa vây Trung Đông như hiện nay.

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Khi con tàu du lịch MV Hondius rời cảng Ushuaia, Argentina vào ngày 1/4/2026, không ai trên tàu có thể ngờ rằng họ sắp trở thành tâm điểm của một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu. Sau bốn tuần, ba hành khách đã tử vong, nhiều người khác nguy kịch, cuộc truy vết phức tạp được tiến hành. Ổ dịch virus Hanta trên con tàu này không chỉ là một thảm kịch đơn lẻ, nó đã trở thành phép thử mới đối với khả năng chống chịu của hệ thống y tế toàn cầu trong bối cảnh chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm sự đồng thuận để đối phó với những đại dịch mới.

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Nói về quốc phục hay cao hơn là bàn tới câu chuyện quốc phục ở nước ta có lẽ rất khó ấn định được thời điểm chính xác, bởi mỗi giai đoạn lại bùng lên rồi xẹp xuống, hòa tan trong vô vàn sự kiện, hoạt động... Những ngày gần đây, thông qua một hoạt động mang tính lễ nghi cấp Nhà nước, vấn đề cần có một bộ quốc phục, lễ phục mang tính thành quy lại xôn xao dư luận, khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa trăn trở, đặt câu hỏi: “Tại sao, đến hôm nay, chúng ta vẫn còn băn khoăn đi tìm quốc phục?”.

Cây giáo trên tay vua

Cây giáo trên tay vua

Giáo là món vũ khí “kinh điển” của thời cổ đại, vì nó dễ chế tạo, dễ huấn luyện và được sử dụng rất linh hoạt. Ngoài binh lính, có những vị vua nước Việt cũng từng cầm giáo làm vũ khí, và có vị còn... ra đi vì mũi giáo.

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang âm thầm thúc đẩy sự mở rộng của nhiên liệu hóa thạch, giúp một số quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất thế giới khoan và khai thác nhiều dầu khí hơn. Đã đến lúc cần xem xét lượng khí thải do AI tạo ra, vốn có thể vượt xa đáng kể so với tác động môi trường từ cơ sở hạ tầng của nó.

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

Thảm họa Chernobyl không chỉ khép lại bằng những con số thương vong, mà còn mở ra một bước ngoặt lớn trong tư duy về an toàn và chính sách năng lượng toàn cầu. Từ cú sốc 1986, khái niệm "văn hóa an toàn hạt nhân" được đặt lên hàng đầu, kéo theo những thay đổi sâu rộng trong thiết kế, vận hành và giám sát các nhà máy điện nguyên tử. Ngày nay, khi nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng, điện hạt nhân đang trở lại và đáng tin cậy hơn nhiều so với cách đây 4 thập kỷ.

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

Ngày 28/4/2026, Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch đã diễn ra tại thành phố Santa Marta của Colombia, với sự tham dự của đại diện hơn 50 quốc gia. Bức tranh rối ren của thị trường năng lượng thế giới thời gian qua cho thấy một thực tế phũ phàng là sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đang trói buộc các quốc gia vào những biến động địa chính trị phức tạp, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát. Trong bối cảnh đó, hội nghị tại Santa Marta đã được nhiều ý kiến ca tụng là sự kiện đánh dấu “bước khai tử” nhiên liệu hóa thạch.

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Khi những người ủng hộ ông Trump trong cuộc đua trở lại Nhà Trắng hô vang khẩu hiệu “Đưa việc làm trở lại”, họ không chỉ nói về những bảng lương đã mất, mà còn về cả một bản sắc đang phai mờ. Thực tế, những nhà máy mới vẫn đang mọc lên trên đất Mỹ, chỉ có điều chúng không nằm ở những thị trấn công nghiệp xưa cũ mà chọn những vùng đất mới. Đây vừa là lựa chọn tất yếu, đồng thời là một nghịch lý của nền kinh tế - chính trị Mỹ hiện tại.

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

Trong nhiều thế kỷ, ưu thế trên không là đặc quyền của các cường quốc quân sự. Máy bay không người lái (UAV) đang thay đổi điều đó. Khi khả năng tiếp cận từ trên không không còn là đặc quyền của vài cường quốc nữa, nó đang khiến cho những cuộc xung đột trở nên “cân bằng” hơn nhưng cũng khó kiểm soát hơn.

Sắc cờ thời xưa

Sắc cờ thời xưa

Chúng ta thường nghe kể rằng thời Nguyễn ở nước ta, vua treo cờ vàng, nhưng ít người biết rằng vua còn có nhiều sắc cờ khác nữa.

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Tòa án Pháp ra phán quyết phạt tù lãnh đạo một tập đoàn đa quốc gia vì hành vi tài trợ khủng bố trong bối cảnh xung đột tại Syria giai đoạn 2013 - 2014. Động thái này không chỉ phơi bày mức độ gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và các mạng lưới cực đoan, mà còn phát đi cảnh báo rõ rệt về ranh giới pháp lý mà doanh nghiệp không thể vượt qua khi hiện diện tại các khu vực chiến sự.

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.