Câu chuyện đắp đê

Trong bộ sử "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" do các sử quan triều Nguyễn chép lịch sử nước ta từ đời Hồng Bàng đến hết đời Lê, ở dưới phần viết về việc triều Trần bắt đầu đắp đê "quai vạc", Vua Tự Đức đã phê rằng: "Một lần thất sách, để tai hại về sau không biết chừng nào!".

Ý của Vua Tự Đức về vấn đề đê điều đã thể hiện rất rõ, rằng ông phản đối việc các triều đại trước đã đắp đê phòng lụt cho hệ thống đê ở miền Bắc. Tuy nhiên, Vua Tự Đức từ khi sinh ra, lớn lên đều ở kinh thành Phú Xuân (Huế ngày nay), có lẽ những hiểu biết của ông về vai trò của hệ thống đê điều đều qua sách vở và ý kiến của các quần thần là chính.

Câu chuyện đắp đê -0
Đê sông Hồng hơn 100 năm trước. Ảnh tư liệu

Hiểu biết của triều đình nhà Nguyễn về lịch sử đê điều như thế nào? Có thể thấy điều này qua nội dung bản sớ của các vị quan phụ trách cơ quan quản lý đê điều ở Bắc Thành là các vị Đê chính thần Lê Đại Cương, Hoàng Quýnh lên Vua Minh Mạng: "Thiết nghĩ, từ đời Đinh - Lý về trước, chưa có đê phòng, dân địa phương đào giếng cày ruộng, có hại về nước lụt hay không thì chưa được rõ. Từ đầu đời Trần sai các lộ đắp đê để chống lụt, dân gian từ đấy đến những nơi thấp trũng mà nhóm ở làm ăn, cho nên các đời theo đó mà sửa đắp, xem là điều cốt yếu trong việc giữ dân và vệ nông, người ta mới nói rằng sau khi đã có đê không thể bỏ đê được nữa. Cho nên, lời bàn bỏ đê, bọn thần chưa dám chắc là định luận. Duy việc đào sông thì từ xưa đã có".

Trước đó, Vua Minh Mạng đã sai các vị quan phụ trách công việc đê chính đi điều tra, thăm dò về các biện pháp phòng lụt ở miền Bắc. Sau khi đi thăm hỏi phụ lão ở các địa phương, Lê Đại Cương, Hoàng Quýnh báo cáo kết quả, nói rằng ngoài việc đê phòng không còn cách nào khác hữu hiệu. Còn các biện pháp khác là bỏ đê cho nước lũ tự do tràn qua và khai đào dòng sông mà thôi. Quan đê chính thời Vua Minh Mạng có phẩm hàm rất cao, vì triều đình bổ quan văn hàm nhị phẩm làm Đê chính sứ, và một quan võ hàm tam phẩm làm tham biện, cho thấy triều đình coi trọng công tác này.

Ngược dòng lịch sử thì không như lời sớ của Lê Đại Cương, sử sách đã ghi việc đắp đê có từ thời Lý. "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết, đời Vua Lý Nhân Tông, năm Long Phù thứ 8 (1108), tháng 2 (âm lịch), triều đình đã tiến hành huy động dân chúng đắp đê ngăn nước sông Hồng ở phường Cơ Xá. Sang đến thời Trần, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 17 (1248) đời Vua Trần Thái Tông, vào tháng 3, nhà vua bắt đầu sai đắp đê Đỉnh Nhĩ (tức đê quai vạc, đê bao bên ngoài đê chính). Sử viết: "Nhà vua hạ lệnh cho các lộ đắp đê tự đầu nguồn đến bãi biển, để đề phòng nước sông lên to, gọi là đê Đỉnh Nhĩ; đặt chức Hà đê chánh sứ và phó sứ để trông coi đốc thúc việc đắp đê. Nếu có chỗ nào đắp vào ruộng đất của dân, sẽ tính trả tiền lại. Việc đắp đê Đỉnh Nhĩ bắt đầu từ đây".

Tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 5 (1255), "Toàn thư" cho biết Vua Trần Thái Tông tiếp tục sai Lưu Miễn đi bồi đắp đê ở sông thuộc lộ Thanh Hóa. Tháng 4 năm đó, nhà vua lại đặt chức Hà đê chánh, phó sứ, lấy các quan giữ chức nhàn tản sung bổ; hằng năm cứ khi nào làm ruộng xong, các viên ấy đốc quân đắp sườn đê và khơi các khe cừ, để đề phòng khi thủy tai hoặc đại hạn.

Việc đắp sửa đê điều từ đó được tiến hành đều đặn, duy trì sang suốt thời Lê sơ, Lê trung hưng. Như vào thời Vua Lê Huyền Tông, năm 1664, triều đình ban hành định kỳ hạn sửa đắp đê điều. Theo đó, cứ tháng 10 hằng năm, ti Thừa chính các xứ sức cho các huyện thuộc hạt đi khám đê điều, xem chỗ nào cần phải sửa đắp. Nếu là công trình nhỏ, thì chiếu theo xã nào mà thế nước có thể đến được sức cho dân các xã ấy tự làm công việc sửa đắp, việc sửa đắp này là do huyện trông coi thúc giục; nếu là công trình lớn thì hạ lệnh cho quan đôn đốc. Hằng năm, cứ thượng tuần tháng Giêng thì khởi công, đến trung tuần tháng 3 công việc đã phải làm xong. Điều này đặt làm thể lệ lâu dài.

Dù vậy, thì hiệu quả của việc đắp đê đến cuối thời Lê trung hưng đã bị suy giảm nhiều. Theo "Cương mục", đời Vua Lê Dụ Tông, năm 1711, khi chúa Trịnh Cương cho người kiểm tra việc đốc thúc dân đắp đê, thì thấy các quan ở trấn phần nhiều chỉ làm cẩu thả cho xong việc, nên mỗi năm đến mùa nước lũ, đê lại vỡ lở, dân vùng ven sông luôn bị tai hại. Do đó, triều đình mới hạ lệnh cho quan trong kinh là bọn Lê Dị Tài và Trần Công Trụ chia nhau đi đôn đốc. Dù vậy thì "công việc sửa đắp đê sau đây thêm bận rộn hơn, nhưng cũng không sao ngăn ngừa được nạn nước lụt", sử viết như vậy.

Khi nhà Nguyễn mới lên, Vua Minh Mạng là người quan tâm đến việc đê điều ở miền Bắc nhất. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), khi có một viên võ tướng thị vệ đi việc công ở Bắc Thành về, vua gọi hỏi về việc dân, nhân bảo thị thần rằng: "Việc đắp đê giữ lụt trẫm thường đến nửa đêm lo tính suy nghĩ đời sống của dân mà chưa được kế gì hay. Phàm đắp đê giữ lụt chẳng qua là tranh lợi với nước, tưởng cũng là vì địa thế khiến phải vậy thôi. Đất kỳ phụ (miền đất ở gần kinh kỳ) ở gần biển, nước lụt tràn lại rút ngay, không đê cũng được. Còn ở Bắc Thành thì địa thế phẳng rộng, nước lũ mùa thu tiến đến, nguồn xa dòng dài, không đắp đê ngăn lại thì cái nạn ngập lụt không thể tính hằng tuần được, ruộng đất nhà cửa của dân ta đều ở đấy cả. Nếu muốn dời đi nơi khác thì đi đâu được. Muốn cho tiện dân thì đê không thể bỏ được. Các đời trước đắp đê đã lâu. Nay, chi bằng nhân đê cũ mà bồi đắp thêm. Nhưng, trước khi làm cũng nên xét kỹ hình thế".

Năm 1833, Vua Minh Mạng từng ra lệnh đình chỉ việc đắp đê để chờ xem tình hình ra sao rồi mới bàn định lại. Tuy nhiên, năm 1834, vua sai Giám thành Phó sứ là Trương Viết Sùy kiểm tra lại thì ông này báo cáo lại rằng "không thể bỏ đê được".

Vua Thiệu Trị cũng có ý tưởng phản bác việc đắp đê. Theo bộ sử triều Nguyễn "Đại Nam thực lục", khi nói chuyện về việc đê điều ngay sau khi lên ngôi, nhà vua đã cho rằng: "Đắp đê để chống nhau với nước sông, cố nhiên là người xưa đã thất sách. Nhưng, sau khi đã có đê rồi, lại không thể nhất khái bác bỏ đi được, cần nên xét kỹ tình hình, châm chước theo sự thuận tiện của dân, mà phân biệt những chỗ đê nào nên bỏ, đê nào nên đắp cho xác đáng, mới là thỏa thiện".

Năm 1847, Tổng đốc Hà Ninh (cai quản 2 trấn Hà Nội và Ninh Bình) Nguyễn Đăng Giai đã đề xuất lên Vua Thiệu Trị về ý định bỏ đê sông Hồng và sẽ khai thông sông Nguyệt Đức (Sơn Tây), Thiên Đức (Hàm Long), Nghĩa Trụ (Bắc Ninh), khiến nước sông Hồng được phân lưu chảy về Đông, giảm bớt lượng nước chảy vào đồng ruộng. Sau khi bàn bạc cùng đình thần, Vua Thiệu Trị không chấp thuận đề nghị này, vì cho rằng: "Nếu nhất đán hủy bỏ đi, nước lũ chảy quanh thì chỗ cao phải đi thuyền, ở sàn, mà chỗ trũng phải bỏ làm đầm, làm vực, không biết luận điệu 'chén nước đổ vào mâm' đã là xác đáng chưa".

Vua Tự Đức là người phản bác chuyện đắp đê nhiều nhất. Năm 1852, vị vua này đã cho mở cuộc trưng cầu ý kiến về việc phòng đê ở Bắc Kỳ, các ý kiến các quan chia thành 2 phái: Giữ đê và bỏ đê. Nhóm chủ trương cứ đắp đê các sông lớn, bỏ đê sông con và sông nhỏ có Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Soạn, Nguyễn Văn Tĩnh, Nguyễn Cẩm, Bạch Tự Cường..., nhóm chủ trương giữ đê có Đặng Văn Hòa, Trương Văn Uyển, Ngụy Khắc Tuần, Nguyễn Khắc Hoan, Nguyễn Văn Siêu, Bùi Quỹ... Các ý kiến của phái bỏ đê cuối cùng vẫn chưa đủ thuyết phục được nhà vua.

Năm Tự Đức năm thứ 10 (1857), xảy ra các vụ vỡ đê nhiều lần ở Hà Nội và Bắc Ninh, nhà vua lại sai các quan bàn luận. Đình thần tâu rằng: "Hiện nay việc phòng giữ nước sông, trừ phi lại sửa đắp đê điều, thực chưa có kế sách gì khác cả. Xin tham xét lệ về khoản năm Gia Long, Minh Mạng đặt riêng sở Đê chính chuyên nha làm việc, để chuyên trách có thành hiệu mới được". Các vị quan Phạm Chi Hương, Vũ Đức Nhu lại bàn thêm rằng trong phép trị thủy thì khai sông, đắp đê nên phải làm cả hai.

Năm Tự Đức thứ 14 (1861) Giám sát ngự sử là Vũ Văn Bỉnh cũng đã tâu bàn việc phá bỏ đê ở miền Bắc, trên từ Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, dưới đến các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, không kể là đê điều của công hay của tư dân, lớn hay nhỏ, hết thảy san lại cho bằng, để cho nước sông tự do lan tràn, thuận dòng chảy xuôi xuống, thì dân ở 5 tỉnh có thể không quan ngại gì vậy. Tuy nhiên, Vua Tự Đức sai quan sở đê chính và các tỉnh thần xét tâu, đều nói là không tiện, nên việc ấy để đấy.

Đến khi thực dân Pháp bắt đầu đô hộ nước ta, họ có hệ thống chuyên gia ở Sở Thủy lợi phân tích việc thủy lợi theo phương pháp khoa học, với hệ thống số liệu và tính toán chi tiết. Khi vị Kinh lược sứ Bắc kỳ Hoàng Cao Khải nghỉ hưu trí ở Hà Nội, cũng đưa ra chủ trương giữ đê. Trong thư gửi cho Thống sứ Bắc kỳ, ông cho rằng, nếu đồng loạt bỏ hết đê, các làng mạc sẽ chìm trong nước lũ, muốn canh tác trở lại, phải chờ đến 10 năm.

Tài liệu của Hoàng Cao Khải được Thống sứ Bắc kỳ chuyển cho Sở Thủy lợi Pháp tại Hà Nội cho ý kiến. Trong tờ trình cho cấp chỉ huy, viên Chánh kỹ sư, Giám đốc Sở Thủy lợi tán đồng phần lớn quan điểm của vị nguyên Kinh lược sứ và nhận xét thêm rằng lòng sông không được bồi nhanh như người ta tưởng, nước ngày một dâng cao, chủ yếu là lưu lượng nước tăng lên do nạn phá rừng ở thượng nguồn gây ra.

Còn triều đình Huế, với sự tư vấn của các quan Pháp, đã kiên định với lập trường giữ đê. Thập niên đầu thế kỷ 20, Vua Thành Thái ban hành quy định rằng hằng năm cứ trước ngày 20 tháng 11 dương lịch, Sở Lục lộ các tỉnh đi khám đê điều trong hạt, lập biên bản trình cho công sứ Pháp liệu biện để có phương án tu bổ. Tuy nhiên, từ đó đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, miền Bắc nước ta vẫn còn chịu nhiều trận lụt lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho dân chúng. 

Lê Tiên Long

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.