Cái chết bí ẩn của điệp viên Vincent Fovargue

Đó là ngày 3/4/1921, Vincent Fovargue (bí danh 1D37) tròn 20 tuổi đã bị Quân đội Cộng hòa Ireland lâm thời (IRA) bắn chết tại sân golf Ashford Manor ở Middlesex (gần London). Vụ hành quyết điệp viên kép bị tình nghi đã trở thành tiêu đề nóng hổi trên hầu hết các mặt báo khắp nước Anh và Ireland khi ấy.

Ở Dublin, Fovargue từng là thành viên của đại đội A, Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn Dublin, cũng như đã có thời gian ngắn đảm nhiệm vai trò Viên chức tình báo tiểu đoàn của Tiểu đoàn 4 trước khi bị bắt giữ vào đầu tháng 1/1921. Qua các phiên thẩm vấn cho thấy Fovargue đã cung cấp thông tin về các thành viên IRA của mình cho chính quyền dẫn đến việc bắt giữ một số quân nhân.

Ngày 31/1/1921, chính quyền Ireland đã tổ chức một cuộc phục kích nhằm cho phép Fovargue “trốn thoát” và chuyển đến London. Bằng cách dùng bí danh “Richard Staunton”, Fovargue đã nỗ lực gia nhập hàng ngũ của phong trào Cộng hòa của London. Tuy nhiên, danh tính thật của Fovargue đã bị bóc trần bởi các thành viên IRA tại London. Kết quả là Fovargue bị xử tử.

Cái chết bí ẩn của điệp viên Vincent Fovargue -0
Reginald Dunne (trái) và Joe O'Sullivan, 2 kẻ chủ mưu giết hại Vincent Fovargue tại sân golf Ashford Manor ở Middlesex (gần London).

Hoàn cảnh xuất thân

Cha mẹ của Vincent Fovargue là ông Robert Fovargue và bà Elizabeth. Đứa con đầu lòng Vincent Fovargue của họ đã chào đời ngày 22/8/1900. Không rõ có phải năm 1901 khi hai mẹ con bà Elizabeth đang sống tại số 11.5 đường Drawbridge lúc ông Robert Fovargue đến thăm họ cùng thời điểm cuộc điều tra dân số đang tiến hành. Vào thời điểm sinh đứa con gái thứ 2 Mary (28/5/1902) gia đình Fovargue đã quay về sống tại số nhà 12 Richmond Hill.

Tiếp đó họ có với nhau đứa con thứ ba Stephen (3/2/1904). Gia đình Fovargue định cư tại số nhà 52 đường Penrose. Sau đó họ có đứa con cuối cùng là Jane (sinh ngày 13/9/1908). Ngày 5/2/1911, cha của Vincen là Robert Fovargue qua đời ở tuổi 47 tại nhà tế bần vì căn bệnh lao phổi. Ngôi nhà của ông được liệt kê là số 2 Moyne Villas, đại lộ Dunville, Rathmines, đây cũng là nơi mà mẹ vợ kiêm người vợ góa Elizabeth sống cùng với 5 đứa con vào thời điểm 1911. Tại thời điểm Vincent qua đời năm 1921, ngôi nhà gia đình được đăng ký tại số 20 đại lộ Dunville, Rathmines. Báo chí đương thời cho rằng Vincent là thư ký được các thương nhân trà và đường McGrath Bros tuyển dụng tại số 3 đường Bachelor’s, Dublin.

Tiết lộ của các nhân chứng

Không rõ khi nào thì Vincent Fovargue gia nhập đại đội A, Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn Dublin (IRA). Thành viên của đại đội này đến từ Rathmines, Harold’s Cross và Terenure. Có báo cáo cho rằng Vincent là sĩ quan tình báo đại đội trước khi được bổ nhiệm làm sĩ quan tình báo tiểu đoàn. Ông Joe Kinsella tại Cục tuyên bố chứng nhân quân sự Ireland (BMWS) nói rằng Vincent Fovargue đã thay thế ông trong khoảng 3-4 tuần khi Joe tạm thời chuyển đến Nha quân nhu.

Còn ông Frank Thornton và David Neligan (cũng ở BMWS) cho rằng Vincent  Fovargue đã bí mật chuyển tình báo sau khi bị quân Anh bắt giữ. Không rõ liệu trước thời điểm đó Vincent có cung cấp thông tin nào khác hay không khi ông Joe Kinsella tuyên bố rằng Vincent đã nói với ông về những địa điểm hội nghị tình báo đại đội trên đường Rathmines và hội nghị tình báo lữ đoàn trên đường Seville, cả 2 nơi này đều bị đột kích.

Theo Joe Kinsella, vụ bố ráp Rathmines đã dẫn đến việc bắt giữ 9 cá nhân, và nhà chức trách còn tìm thấy nhiều tại địa điểm Seville Place dẫn đến việc bắt sống Peter Ennis. Ông Joe Kinsella tin rằng Vincent Fovargue bị người Anh “bắt giữ” vì sự an toàn cho chính anh ta khi mọi hoài nghi đổ dồn vào. Louis McDermott (bí số 24SP11770) là đại úy thuộc Đại đội A (Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn Dublin), bị người Anh bắt giữ ngày 12/1/1921 và giam giữ tại lâu đài Dublin trên đồi Arbour cho đến khi được phóng thích vào tháng 12/1921. Trong một tuyên bố viết tay (dày 44 trang), Louis McDermott tuyên bố rằng “hoàn cảnh tôi bị bắt giữ rất đặc biệt”. 

John Noud (bí số MSP34REF1616) thuộc Đại đội A, Tiểu đoàn 4 cũng có trải nghiệm tương tự. Trong một tuyên bố, ông Noud lưu ý rằng “tôi bị các cựu binh Anh bắt giữ tại nhà riêng ở Harold’s Cross” vào tháng 1/1921 và bị giam giữ ở Ballykinlar cho đến tháng 12/1921. Trong một tuyên bố trước Ủy ban cố vấn, Noud tuyên bố rằng ông bị bắt  vì “lộ thông tin do sĩ quan tình báo tiểu đoàn… người bị xử bắn bởi IRA ở Middlesex”. Còn ông Seamus Nolan (bí số 24SP3718) cho rằng “tôi bị bắt vào đầu năm 1921 do lộ thông tin từ ai đó ở Đại đội A, Tiểu đoàn 4, một kẻ phản bội”.

Hay ông Peter Ennis (bí số 24SP5580) là một sĩ quan tình báo của Lữ đoàn Dublin vào thời kỳ đó. Ông Peter bị bắt vào tuần đầu tiên của tháng 1/1921 và ngồi tù cho đến khi được phóng thích đồng loạt với các cựu tù khác trong tháng 12 cùng năm đó. Trong những ghi chú không đề ngày tháng của mình, cái tên Fovargue đã được ghi lại điều đó cho thấy ông Peter Ennis hồ nghi anh ta có liên quan đến việc mình bị bắt giữ. Điều này tương ứng với lời kể của Joe Kinsella.

Người cuối cùng hoài nghi về Vincent Fovargue là ông Thomas Walsh (bí số MSP34REF57114) là một sĩ quan tình báo của Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Dublin, vào năm  1921; đến năm 1922, ông được thăng làm sĩ quan tình báo lữ đoàn trực thuộc Lữ đoàn Dublin số 2. Ông Thomas nói với Ủy ban cố vấn vào cuối buổi phỏng vấn rằng “người bị bắn ở sân golf tại London đã thổi còi vào tôi”. Ông Thomas Walsh tuyên bố rằng Vincent Fovargue “không phải là gián điệp nhưng bị bắt tại trận và trưng ra bằng chứng”.

Cái chết bí ẩn của điệp viên Vincent Fovargue -0
Mộ của cựu sĩ quan tình báo Vincent Fovargue.

Hoạt động của IRA ở London

Sau khi trốn thoát từ nơi bị “giam giữ” ở Dublin, Vincent Fovargue có thể đã đến London ngay lúc đầu tháng 2/1921 và bắt đầu sử dụng bí danh “Richard Staunton”. Thông tin liên quan đến thời gian Vincent Fovargue có mặt ở London đã được lưu lại bởi Cục truy tặng huy chương (giai đoạn 1917-1921). Trong một lá thư đề ngày 14/2/1963, ông Frank Lee (bí số MSP34REF58677) từng là một nhạc sĩ nổi tiếng kiêm thành viên của Đại đội A (Tây Nam London), Tiểu đoàn London của IRA, kể rằng mình từng có chơi đàn dương cầm nhân một vũ hội kêu gọi gây quỹ được tổ chức bởi nhánh Fulham của Liên đoàn tự quyết Ireland (ISDL) tại hội sảnh Kelvedon Hall, nhớ lại: “Việc quan trọng nhất là loại bỏ hiện trường hoạt động của Vincent Fovargue. Tại thời điểm đó, nhiều người trong đại đội A thường tham dự tiệc âm nhạc vào mỗi tối thứ Bảy tại hội sảnh Kelvedon ở Fullham, và Vincent Fovargue hay đến đó”.

Ông Frank Lee kể tiếp: “Tối thứ Bảy đó, anh ta (Vincent) cố gắng bắt chuyện với tôi trong khi tôi đang chơi đàn dương cầm và vì được cảnh báo trước về anh ta nên tôi không có nhiều điều muốn nói. Tối đó tôi thấy Martin Wallace và Brian O’Gorman đứng gần Reg Dunne và Tom Monaghan ở cửa ra. Tôi linh cảm có chuyện gì đó sắp xảy ra. Sáng hôm sau, người ta phát hiện Vincent Fovargue đã chết trên một sân golf và bị chụp mũ là “gián điệp”. Ông Frank Lee đã nhận lương hưu phục vụ quân đội nhưng không có dòng nào đả động tới Fovargue/ Staunton trong lá đơn của mình. Điều đáng lưu ý là ông Frank đề cập đến các tình nguyện viên IRA là Martin Wallace, Brian O’Gorman (bí số MSP34REF43080), Reginald Dunne (bí số DP1462) và Tom Monaghan tại lối ra của hội sảnh vào đêm ngày 2/4/1921 khi Vincent Fovargue bị bắt đi.

Trong một tuyên bố đề năm 1962 nhằm ủng hộ đơn xin tặng huy chương của mình, ông Martin Wallace viết: “Tôi đã thấy “Staunton” (Vincent Fovargue) vào một dịp trước đó ở hội sảnh Kevedlon, Fullham. Đó là lúc 8 giờ 30 phút, khi đó tôi ở ngoài tòa nhà. Chỉ thị của tôi là nếu có trục trặc, tôi phải đảm bảo cho “Staunton” và hỗ trợ Comdt. Reginald Dunn cùng cả đám trốn thoát. “Staunton” được cử đến - anh ta bước ra khỏi hội sảnh và sau một hồi, cả nhóm lên xe đi khỏi”.

Các sử gia tin rằng Reginald Dunne, Joe (hoặc Joseph) O’Sullivan (bí số DP6925) cùng Joe Shanahan (bí số 24SP2326) là 3 cá nhân đã đưa Vincent Fovargue ra khỏi xe hơi và giết anh ta trên sân golf (Reginald Dunne và Joseph O’Sulllivan cùng bị hành hình ở London vào ngày 10/8/1922 vì tội thông đồng để giết Thống chế Sir Henry Wilson bên ngoài tư dinh của ông ở London vào ngày 22/6/1922).

Ông William Smyth (bí số MSP34REF32335) của Đại đội A (Tây Nam London), Tiểu đoàn London của IRA đã nói với Ủy ban cố vấn rằng mình đã chở 3 khẩu súng lục và đạn dược từ nhà riêng ở Clapham đến dạ tiệc âm nhạc ở Fulham cũng là cái đêm mà Vincent Fovargue bị sát hại. Lời làm chứng còn đến từ ông John P Dillon (bí số 1924A55) của Đại đội C (Bắc London), Tiểu đoàn London của IRA (sau này ông John phục vụ trong vai trò sĩ quan tình báo của Đại bản doanh ở London dưới quyền chỉ huy của Sam Maguire).

Ông Dillon tuyên bố rằng mình được giao nhiệm vụ theo dõi nhà riêng của Ngài Ahern ở Wood Green - người đã che chở cho các cựu binh Anh trong thời gian nghỉ phép ở London. Trong lá thư tay, Dillon viết rằng “Fovargue hay Ahern, ai sẽ phải trả giá” (bị IRA thủ tiêu ở London). Dillon tuyên bố những cuộc gặp gỡ này là dạng nhiệm vụ tình báo đặc biệt thường diễn ra ở số 8 đường Sterndale. Trong một lần, Dillon đã xin IRA (nhánh London) nên xử tử Vincent Fovargue.

Dillon nói với Ủy ban cố vấn rằng: “Tôi đề xuất rằng trừ khi có chuyện gì đó được thực hiện, chúng ta chưa từng gây khó dễ cho chính phủ Anh và đó là lý do họ quyết định xử Fovargue…  Về phần mình, ông DP Kelleher (bí số MSP34REF19466) đã giữ chức phó chỉ huy kiêm trợ lý tiểu đoàn của Tiểu đoàn London vào đầu năm 1921, trong một tuyên bố nêu chi tiết các hoạt động của IRA ở London, Kelleher viết rằng “xác một người đàn ông bị bắn chết ở Ashford, Middlesex, theo mật lệnh từ Dublin nhằm loại bỏ một gián điệp nào đó”.

Những tình tiết chưa kể

Mẹ của Vincent Fovargue, bà Elizabeth, thông qua luật sư của mình đã đệ đơn lên Bộ Tài chính Anh đòi Ủy ban bồi thường đòi bồi thường số tiền 2.000 bảng. Tuy nhiên không có số tiền nào được trao. Tháng 12 năm đó, bà đã nộp đơn xin trợ cấp hoặc tiền cho người phụ thuộc chiếu theo đạo Luật lương hưu quân đội năm 1923. Bà Elizabeth nói con trai bà là một sĩ quan tình báo của Đại đội A, Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn Dublin, dưới quyền chỉ huy của Sean Dowling (bí số MSP34REF43520). Bà tuyên bố rằng “lệ thuộc hoàn toàn” vào con trai vì anh ta là người kiếm tiền chính nuôi cả nhà. Bà nói Vincent chu cấp tiền bạc để nuôi dì của mình (sống cùng mẹ) và các em. Luật sư lưu ý rằng “cái chết bí ẩn của Vincent ở London đã diễn ra sau khi anh ta trốn thoát bàn tay người Anh ở Dublin”.

Tháng 6/1924, bà nhận được phúc đáp rằng không có số tiền nào trao cho con trai của bà vì “ông ta không phải là thành viên của Đội tình nguyện Ireland”. Về mặt kỹ thuật thì đúng, song Bộ này lại không thừa nhận việc Vincent đã hoạt động cho IRA tại thời điểm trước tháng 1/1921. Có một số lời thừa nhận đáng lưu ý như trên trang nhất của tệp hồ sơ 653/69 của Bộ Quốc phòng Anh có lưu ý rằng Vincent Fovargue là “thành viên của IRA bị sát hại ở London”.

Vụ xử tử Vincent Fovargue trong tháng 4/1921 đã minh chứng rằng IRA ở Anh có khả năng giết bất kỳ ai khi cần thiết. Trước đó hoạt động quân sự chính của họ là phá hủy các trang trại, kho tàng, nhà xưởng, hộp tín hiệu đường sắt, bãi gỗ và dây điện báo. Một số các sĩ quan cảnh sát và nhân viên an ninh đã bị bắn và bị thương trong những vụ việc hỗn loạn này.

Một số thành viên gia đình các cựu binh Anh cũng bị thương trong các cuộc tấn công vào nhà cửa của họ ở Anh, song vụ ám toán Fovargue được tính toán đã mở ra một lãnh thổ mới cho IRA ở Anh. Cùng với vụ IRA ám sát đối tượng tình nghi Patrick Croxy O’Connor ở New York City trong tháng 4/1922, thì vụ “thủ tiêu” Vincent Fovargue là một trong những hoạt động quan trọng nhất mà IRA thực hiện bên ngoài Ireland trong giai đoạn 1919-1923.  

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.