Bước thăng trầm của Nabokov và "Lolita"

"Lolita" là tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn lớn người Mỹ gốc Nga Vladimir Nabokov (1899-1977). Đây là một trong những cuốn tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi nhất trong thế kỷ. Mặc dù khởi đầu, tác phẩm không được xuất bản ngay tại một nước có chế độ kiểm duyệt "thoáng" như nước Mỹ, song đến nay, sách đã được xuất bản tại gần 40 quốc gia, được xếp vào top 100 tác phẩm xuất sắc nhất mọi thời đại...

Nhân sự kiện vào trung tuần tháng 3 vừa qua, tại Việt Nam, ấn bản "Lolita" do dịch giả Dương Tường chuyển ngữ, NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam phối hợp xuất bản đã ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về bước thăng trầm của tác giả cũng như tác phẩm độc đáo này...

Luôn nhớ mình là người Nga

Sinh thời, Vladimir Nabokov thường giới thiệu mình: "Tôi là nhà văn Mỹ gốc Nga, được đào tạo ở Anh, nghiên cứu văn học Pháp và mười lăm năm sống ở Đức".

Nabokov sinh trưởng trong một gia đình thuộc diện danh gia thế phiệt. Ông nội của nhà văn - D.N.Nabokov - từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp dưới thời Hoàng đế Aleksandr II. Ông ngoại của nhà văn là nhà tỷ phú công nghiệp khai thác vàng Rukavishnikov.

Năm 1918, trước các biến cố chính trị xảy ra tại Nga, chàng thanh niên 19 tuổi Nabokov đã cùng gia đình sơ tán đến Krưm. Một thời gian sau, họ quyết định rời nước Nga tới định cư ở Berlin, Đức. Tại đây, Nabokov theo học Trường Đại học Tổng hợp Kembrizsky. Sau 15 năm lập nghiệp tại Đức, năm 1937, số phận lại một lần nữa thử thách Nabokov cùng gia đình ông. Nabokov cùng vợ con chuyển sang sống tại Paris , Pháp. Nhưng họ cũng chỉ "yên vị" ở đây được vẻn vẹn chưa đầy 3 năm. Năm 1940, trước khi những đơn vị quân đội đầu tiên của Đức phát xít tiến vào Paris, Nabokov đã kịp đưa cả gia đình di cư sang Mỹ. Năm 1945, Nabokov chính thức nhập quốc tịch Mỹ. Trong gần 20 năm sống tại Mỹ, Nabokov vừa dạy học, vừa viết văn. Một thời gian, ông là cán bộ nghiên cứu tại Bảo tàng động vật học ở Đại học Harvard, với công việc trực tiếp là tham gia thiết kế các bộ sưu tập bướm (sưu tập bướm là một thú đam mê suốt đời của Nabokov). 

Theo tiết lộ của ông Dmitry Nabokov - con trai Vladimir Nabokov, sinh thời, bố ông thường hay đau đớn nhắc tới "ba bi kịch" của đời mình: Đó là tuổi thơ ly loạn; cái chết bi thảm của thân phụ ở Berlin (năm 1922) bởi bàn tay của những người theo chủ nghĩa quân chủ Nga tại hải ngoại; và việc không được sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ khi bắt đầu di cư sang Mỹ (trong 20 năm sống ở Mỹ, nhà văn không thể sáng tác bằng tiếng Nga vì ở đây không có độc giả đọc tiếng Nga). Bản thân Nabokov, trong lời mở đầu tiểu thuyết "Những bến bờ khác" cũng đã viết những dòng xa xót: "Năm 1940 tôi quyết định chuyển sang viết bằng tiếng Anh. Điều đáng nói là trước đó, trong 15 năm trời, tôi sáng tác bằng tiếng Nga và đã ghi được những dấu ấn đáng kể bằng thứ "công cụ" này. Phải từ bỏ tiếng mẹ đẻ, tiếng của Pushkin, Tolstoy là một sự đau đớn đối với tôi".  

Mặc dù trong sáng tác, Nabokov đã phải "đoạn tuyệt" với tiếng Nga, song ông vẫn giữ mối liên hệ với cố quốc bằng việc nhận giảng dạy văn học Nga tại một số trường đại học ở Mỹ cũng như chuyển ngữ những tác phẩm của mình ra… tiếng Nga. 

Một cảnh trong phim "Lolita" chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Nabokov.
Một cảnh trong phim "Lolita" chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Nabokov.

Những năm cuối đời, Nabokov sống ở Thụy Sĩ. Trước khi mất, trong một cuộc gặp gỡ, trò chuyện với nữ sĩ Nga Bella Akhmadulina khi bà đến thăm ông tại nhà riêng, Nabokov đã thổ lộ nỗi lòng: "Tôi tiếc là đã không ở lại nước Nga". Nghe nhà văn thốt lên câu cảm thán này, vợ ông - bà Vera - đã nhắc lại cho ông nhớ "bối cảnh lịch sử rất phức tạp" khi ông buộc phải rời quê hương. Nabokov như không đoái hoài tới lời phân tích ấy, ông nói: "Biết đâu ở lại, tôi có thể sẽ trở thành một tác giả hoàn toàn khác, và hay hơn bây giờ nhiều".  

Mặc dù thời gian sống, gắn bó với nước Nga không nhiều (chỉ 20 năm đầu đời), song trong tâm tưởng, không lúc nào Nabokov không hướng tới nước Nga, không nhớ mình là một người Nga. Tình cảm ấy đã được ông đúc kết trong một nhận xét: "Đầu tôi nói bằng tiếng Anh, tai tôi nghe bằng tiếng Pháp nhưng trái tim tôi nói bằng tiếng Nga!".

Vượt lên sự "gợi dục"

Có thể nói, "Lolita" là một hiện tượng bất thường vào loại bậc nhất của văn chương thế giới thế kỷ XX. Tác phẩm bị nhiều nhà xuất bản từ chối! Mặc dù được viết bằng tiếng Anh nhưng tại thời điểm tác phẩm ra đời, nó "khó đọc" và không được chấp nhận ngay cả ở Mỹ (có một công ty nhận xuất bản cuốn sách nếu tác giả đồng ý biến Lolita từ một cô bé thành một cậu con trai - có lẽ đồng tính luyến ái dễ được chấp nhận hơn?). Nabokov đã phải gửi bản thảo sang Pháp và được xuất bản tại đây lần đầu tiên vào năm 1955 bởi một tờ báo khiêu dâm.

Một thời gian sau "Lolita" được in ở Mỹ

Với nội dung chủ yếu mang tính khảo sát trí óc của một kẻ dâm ô với một bé gái 12 tuổi, cuốn tiểu thuyết của Nabokov đã gây tranh cãi gay gắt trong công luận. Trong lời bạt cho một bản sách ra mắt bạn đọc vào năm 1956, Nabokov không giấu việc cuốn sách của ông nhận được nhiều lời lên án. Tuy nhiên, bất chấp những giả định người ta đặt ra cho "Lolita", Nabokov tuyên bố ông không đưa ra bất cứ một thông điệp đạo đức nào mà chỉ muốn độc giả tự thưởng thức câu chuyện và rút ra những bài học từ chính nhận thức của mình.

"Đa số độc giả sẽ chán ngấy, thậm chí cảm thấy buồn nôn khi đọc cuốn sách" - Một bài viết trên Tạp chí Providence Journal đưa ra nhận xét. Đại bách khoa toàn thư của Liên Xô gọi "Lolita" là "một thử nghiệm kết hợp tiểu thuyết khiêu dâm với tiểu thuyết đạo đức". Một số ý kiến ôn hòa hơn cho cuốn tiểu thuyết là "tiếng nói đại diện cho thời đại nữ quyền nổi lên ở phương Tây hồi thập niên 50".

Dù còn ý kiến, quan điểm này khác song không thể phủ nhận một thực tế, kể từ lần xuất bản đầu tiên cho tới nay, tiểu thuyết "Lolita" đã tiêu thụ được trên 50 triệu bản. Cuốn sách cũng được tái bản rất nhiều lần (trong đó có kỷ lục được tái bản chỉ sau… 4 ngày). Tác phẩm cũng được dựng thành phim, đem về cho tác giả của nó danh vọng và tiền bạc. Hẳn từ đây, sẽ có người phải ngẫm lại rằng, lẽ nào chỉ với nội dung "khiêu dâm" thôi mà một cuốn sách gặt hái được nhiều vinh quang đến thế?

Theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn, "Lolita" không thuần túy là một tác phẩm gợi dục. Nó đã rất xuất sắc trong việc lột tả một cách chi tiết, tinh vi tâm lý của con người. Đặc biệt, nó thể hiện một khả năng sử dụng ngôn ngữ trác tuyệt của tác giả. Riêng ở nước Nga, nơi chôn nhau cắt rốn của Nabokov, nhiều độc giả trẻ đã đón nhận cuốn sách với một thái độ hồ hởi, và họ đã có một nhận xét xác đáng rằng: "Nabokov là nhà văn biết ca ngợi tình yêu thể xác một cách kỳ diệu".

Những kiệt tác suýt bị… tiêu hủy

Ngày nay, mấy chữ "Lolita" có thể gợi lên trong đầu người đọc, người xem ý niệm về một thiếu nữ tuổi "teen" gợi dục quá độ. Thật ra, khi đặt bút viết "Lolita", tác giả không bao giờ có ý định tạo ra cho độc giả sự liên tưởng ấy. Từng có lúc, Nabokov đã hoang mang, thậm chí ông "sợ hãi" chính mình. Theo người thân của nhà văn kể rằng, Nabokov từng "hỏa thiêu" bản thảo vì… kinh sợ, vì quá mệt mỏi với việc phải đấu tranh với các nhà xuất bản xung quanh việc có nên đưa hình một cô gái ít tuổi như vậy lên trang bìa cuốn sách hay không. Chính bà vợ Vera đã cứu được bản thảo "Lolita" từ đống lửa, nhờ đó mà "Lolita" mới có cơ hội xuất chiêu ra với thế giới vào năm 1955.

Giống như "Lolita", cuốn tiểu thuyết chưa có phần kết được Nabokov chấp bút vào năm 1975 (mang tên "Laura và nguyên mẫu") cũng có số phận đặc biệt. Trước khi qua đời, nhà văn đã viết di chúc yêu cầu vợ con hủy bản thảo bởi lý do ông viết chưa xong. Nabokov không thể yên lòng khi để "độc giả đọc cuốn sách mới có trong đầu mà chưa được viết ra giấy". Tuy nhiên, di chúc thì di chúc vậy, người con trai Dmitry Nabokov đã làm trái ý thân phụ mình. Ông này đã giữ bản thảo cuốn tiểu thuyết dở dang ấy suốt 32 năm. Cũng có lúc ông muốn đốt tập bản thảo "Laura" để tránh mọi sự tranh cãi như đối với trường hợp tiểu thuyết "Lolita" trước đấy, nhưng rồi ông thay đổi ý định và vì lẽ đó, tác phẩm đã được ra mắt bạn đọc (sách được xuất bản lần đầu vào tháng 11/2009 tại New York, Mỹ).

Mặc dù cuốn tiểu thuyết còn ở tình trạng dở dang, nhưng có lẽ vì thấu hiểu nỗi lo lắng của tác giả quá cố, các nhà làm sách đã cho in trọn vẹn bản thảo, không hiệu đính và viết thêm để kết thúc câu chuyện. Đây cũng là một "ca" lạ trên văn đàn thế giới

Hà Ngọc Tường

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.