Bộ đồ thợ lặn đã được chế tạo như thế nào?

Từ đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20, khi nhân loại phát minh ra bộ quần áo lặn và hệ thống cung cấp dưỡng khí thì thay vì độ an toàn được nâng cao, hàng nghìn thợ lặn lại tử vong hoặc liệt toàn thân trong quá trình từ dưới biển ngoi lên mặt nước.

Năm 1905, một nhà sinh lý học người Scotland là John Scott Haldane sau một thời gian nghiên cứu trên những con dê, đã tìm ra cách khắc phục tình trạng này. Tổng cộng có khoảng 150 con dê chết hoặc liệt toàn thân trong quá trình thử nghiệm để cứu sống hàng trăm nghìn thợ lặn trên toàn thế giới…

Bệnh giảm áp – Tai họa của thợ lặn

Câu chuyện bắt đầu vào một sáng mùa hè năm 1886, khi 2 thợ lặn người Anh là Thomas Dunne và Andrew Morgan lặn tìm một xác tàu đắm của Công ty Đông Ấn ở ngoài khơi bờ biển Southampton, Anh Quốc. Hồi ấy, để chống lại cái lạnh, thợ lặn thường mặc quần áo bằng da, đầu đội mũ sắt hình cầu kín nước, có ống dẫn không khí nối liền với một máy nén khí đặt ở trên tàu. Nhờ những thiết bị này, họ có thể hoạt động dưới biển một thời gian dài cho đến khi sức chịu đựng  của họ đạt đến tới hạn.

Nhà sinh lý học Haldane, người tìm ra phương pháp giải áp cho thợ lặn.
Nhà sinh lý học Haldane, người tìm ra phương pháp giải áp cho thợ lặn.

Sau hơn 2 giờ tìm kiếm dưới đáy biển ở độ sâu 43m và khi đã định vị được xác tàu đắm, Thomas Dunne cùng Andrew Morgan ngoi lên. Tuy nhiên, lúc lên đến mặt nước, họ không thể tự mình trèo lên tàu. Hơn nữa, họ cũng không thể tự cởi bỏ bộ quần áo lặn mà phải nhờ các thủy thủ hỗ trợ. Cả Thomas Dunne lẫn Andrew Morgan đều bị liệt nửa người.

Thời điểm ấy, các bác sĩ Hải quân Hoàng gia Anh không sao lý giải được hiện tượng này vì cũng như rất nhiều thợ lặn khác, hoặc tử vong, hoặc liệt toàn thân, liệt nửa người, như đã từng xảy ra trước đó. Họ chỉ tạm thời kết luận rằng dưới áp lực cao của nước biển, các thợ lặn bị đột quỵ nhưng tại sao lại đột quỵ hàng loạt thì câu trả lời vẫn là ẩn số.

Mãi đến năm 1900, khi ngành giải phẫu pháp y đã có những bước tiến đáng kể, việc mổ tử thi những thợ lặn tử vong cho thấy trong não, phổi và các khớp xương của họ có những bong bóng khí nitơ. 

Bác sĩ Cunningham, chuyên gia pháp y của Hải quân Hoàng gia Anh viết trong báo cáo: "Thông thường khi ở trên mặt đất, cơ thể con người chịu tác động của áp suất không khí khoảng 1 at-mốt-phe/cm2 (viết tắt là atm/cm2, tương đương 760mm thủy ngân) nhưng khi xuống nước, cơ thể phải chịu thêm áp suất của nước. Cứ xuống sâu 10m thì áp suất tăng thêm 1atm. Càng xuống sâu, áp suất càng lớn…". Nếu xuống sâu đến 30m, thợ lặn  sẽ cảm thấy tức ngực, ù tai, mờ mắt, choáng váng, mất nhận thức nếu không có bình oxy giúp thở và nếu sâu hơn nữa, thợ lặn sẽ hôn mê rồi tử vong.

Vẫn theo bác sĩ Cunningham, khi xuống đến độ sâu hơn 30m, một số loại khí trước đó đã hòa tan trong máu thì bây giờ chúng tách ra, bao gồm cả khí nitơ. Nếu như ở trên mặt đất, lượng nitơ hòa tan trong máu là gần 1 lít thì ở độ sâu 20m, nó là 2 lít. Lúc thợ lặn ngoi lên mặt nước một cách đột ngột, nitơ không kịp đến phổi để theo không khí, hòa tan trở lại với máu nên nó hình thành những bọt khí, càng lúc càng lớn dần, gây tắc mạch máu, chèn ép các tế bào thần kinh, thuyên tắc phổi. Hậu quả là thợ lặn tử vong hoặc liệt. Cunningham gọi đây là "bệnh giảm áp".

Để giải quyết chuyện này, bác sĩ Cunningham đề xuất phương án đưa thợ lặn bị bệnh giảm áp vào một chiếc thùng kín có áp suất tương đương với áp suất ở độ sâu mà họ đã làm việc rồi giảm áp từ từ cho đến khi nó cân bằng với áp suất trên mặt đất để khí nitơ có đủ thời gian hòa tan vào máu. Tuy nhiên, phương án ấy gặp phải trở ngại là việc cấp cứu phải được thực hiện ngay từ lúc thợ lặn mới ngoi lên nhưng nếu có 4 hoặc 5 thợ lặn đều cùng bị bệnh giảm áp thì không lẽ trên tàu lại phải đặt 4 hoặc 5 thùng giảm áp? Chưa kể có những cuộc lặn cứu hộ mà thợ lặn lên đến hàng chục người!

Những con dê cứu sinh

Năm 1905, trước việc mỗi năm có hàng trăm thợ lặn tử vong hoặc liệt vì bệnh giảm áp, Hải quân Hoàng gia Anh giao cho nhà sinh lý học người Scotland là John Scott Haldane nghiên cứu tìm cách chống lại căn bệnh này bởi lẽ thời điểm ấy, Haldane đã nổi tiếng với các thí nghiệm trong việc loại trừ các khí độc ở các mỏ than. 

Con dê sống sót cuối cùng trong số 150 con dùng để thí nghiệm giảm áp.
Con dê sống sót cuối cùng trong số 150 con dùng để thí nghiệm giảm áp.

Bằng cách xem xét tất cả những trường hợp tử vong hoặc bại liệt, Haldane nhận ra rằng tất cả những thợ lặn làm việc ở độ sâu không quá 10m thì  không ai mắc phải bệnh giảm áp. Trong buổi thuyết trình trước Hội đồng Y học Hoàng gia Anh, Haldane nói: "Nếu một thợ lặn xuống sâu 100m thì khi ngoi lên, anh ta chỉ lên đến 70m và dừng lại trong một khoảng thời gian rồi tiếp tục lên 30m. Tại độ sâu đó, anh ta dừng lại thêm một lần nữa để cơ thể điều chỉnh khí nitơ rồi mới ngoi lên mặt nước thì các tai biến sẽ không bao giờ xảy ra. Đây chính là "lý thuyết giải nén".

Tuy nhiên, đã là lý thuyết thì phải chứng minh tính hiệu quả. Theo đề nghị của Haldane, Hải quân Hoàng gia Anh cho ông toàn quyền sử dụng phòng thí nghiệm của Viện Y học dự phòng Lister ở London với sự cộng tác của trung uý Guybon Damant, một chuyên gia lặn biển thuộc Hải quân Hoàng gia và nhà sinh lý học Edwin Arthur Boycott. Thoạt đầu, Haldane cùng cộng sự tiến hành thực nghiệm giảm áp trên chuột lang và gà bằng cách đặt chúng vào một bình kín với áp suất tương đương 30m dưới biển. Thế nhưng kết quả thu được lại không thể giúp Haldane đưa ra kết luận vì hệ hô hấp của chuột lang và gà trao đổi khí nhanh hơn rất nhiều so với cơ thể con người.

Vì vậy, Haldane thay thế chuột lang, gà bằng khỉ, chó và lợn nhưng tần số hô hấp của 3 loài vật này cũng khác xa con người. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu chọn loài dê vì sự hít thở của nó bằng 1,7 lần so với một thanh niên trưởng thành. Trong lần thí nghiệm đầu tiên, 85 con dê được chuyển đến Viện Y học dự phòng Lister. Bằng cách đặt từng 8 con một vào trong buồng kín, Haldane cho áp suất không khí tăng lên bằng với độ sâu 30m dưới nước. Tiếp theo, ông tăng độ sâu lên 50m, 100m và 150m. 

Qua quan sát, Haldane cùng 2 cộng sự nhận thấy cũng như con người, loài dê có các triệu chứng khác nhau, biểu thị của bệnh giảm áp. Một số con khi đưa trở lại môi trường không khí bình thường thì nó không ăn uống, không đi đứng được, một số con chết trong đau đớn còn nhiều con khác bị liệt tạm thời hoặc liệt vĩnh viễn. 

Kết quả mổ xác cho thấy hầu hết những con dê thí nghiệm đều bị tổn thương ở các khớp, phổi và não bị phù do các bóng khí nitơ. Haldane nói: "Khi đã xác định được nguyên nhân và hậu quả của bệnh giảm áp, vấn đề còn lại cho câu trả lời là thời gian dừng lại giữa các độ sâu lúc thợ lặn ngoi lên là bao nhiêu để các bóng khí nitơ có thể hòa tan trở lại vào máu?".

Cuối cùng, trong số 150 con dê thí nghiệm, chỉ có 1 con duy nhất sống sót nhưng nó đã giúp Haldane, Guybon Damant và Edwin Arthur Boycott xác định được khoảng thời gian "nghỉ" giữa các độ sâu là bao nhiêu. Haldane nói: "Bước tiếp theo là thí nghiệm trực tiếp trên con người, và người tình nguyện đi vào “cõi chết” là trung úy Andrew Catto, một thợ lặn dày dạn kinh nghiệm của Hải quân Hoàng gia Anh".

Giống như những con dê, Andrew Catto bước vào một buồng kín với bộ quần áo lặn và chiếc mũ hình cầu bằng thép với ống dẫn oxy. Giây lát, áp suất trong buồng được điều chỉnh cho tăng lên, tương đương với áp suất ở độ sâu 100m dưới nước. Sau 1 tiếng, áp suất giảm xuống tương đương độ sâu 70m. Catto ngồi im chịu trận 1 tiếng 30 phút trước khi áp suất không khí chỉ còn bằng với độ sâu 30m. 

Ngồi thêm 1 tiếng nữa, áp suất trong buồng được trả lại như áp suất bình thường trên mặt đất thì Haldane mở cửa cho Catto bước ra. Kết quả, thợ lặn Catto vẫn tỉnh táo, cả về tri giác lẫn chức năng vận động. Mọi hiện tượng của bệnh giảm áp không thấy xuất hiện ngoại trừ Catto chỉ có cảm giác hơi mỏi ở các khớp xương. Haldane nói: "Nó là dấu hiệu cho thấy  một số bóng khí nitơ bắt đầu xâm nhập vào khớp. Vì vậy, thời gian "nghỉ" cần phải tăng thêm, nhất là ở giai đoạn thợ lặn gần ngoi lên mặt nước".

Thành công

Cuối tháng 8 năm 1906, Haldane quyết định thử nghiệm thực tế dưới nước. Trên chiếc tàu phóng ngư lôi HMS Spanker, nhóm nghiên cứu đến vùng biển nước sâu ở Loch Striven. Trung úy Catto và trung úy Damant trong bộ quần áo lặn cồng kềnh và cái mũ lặn nặng tổng cộng 50kg, có ống dẫn khí oxy nối với máy nén khi đặt trên tàu cùng sợi dây điện thoại để liên lạc, cả hai thả người rơi xuống nước. 6 phút sau đó, họ xuống đến độ sâu 100m rồi tiến hành một số hoạt động, mô phỏng cách làm việc của các thợ lặn.

Trung úy Andrew Catto (phía trên) và trung úy Guybon Damant chuẩn bị xuống độ sâu 150m trong một lần thực nghiệm giảm áp.
Trung úy Andrew Catto (phía trên) và trung úy Guybon Damant chuẩn bị xuống độ sâu 150m trong một lần thực nghiệm giảm áp.

Sau hơn 1 tiếng, Damant và Catto ngoi lên. Cũng như trong thí nghiệm buồng kín, cả hai dừng lại 3 lần, mỗi lần từ 1 tiếng 30 phút đến 2 tiếng, ở các độ sâu lần lượt là 100m, 70m và 30m. Tuy nhiên, lúc ở độ sâu 70m, ống dẫn oxy của Catto bị rối khiến việc cung cấp không khí cho Catto giảm lại và sự cố này kéo dài trong 28 phút. 

May mắn thay, với sự giúp đỡ của Damant, Catto gỡ được đoạn dây bị rối. Haldane, trưởng nhóm nghiên cứu bệnh giảm áp cho biết trong suốt 28 phút ấy, lượng oxy cung cấp cho Catto chỉ còn bằng 7/10 so với bình thường, và nguy cơ bóng khí nitơ không kịp hòa tan vào máu là rất cao vì oxy đến phổi giảm. 

Ý thức được điều ấy, lúc ở độ sâu 10m, Catto quyết định dừng lại "nghỉ" thêm 10 phút trước khi ngoi lên. Vẫn theo Haldane, cả Damant và Cotto đều không có dấu hiệu gì của bệnh giảm áp, kết quả thực nghiệm được đánh giá là thành công hoàn toàn. Dù vậy, Haldane cùng Damant và Boycott vẫn tiếp tục thực nghiệm thêm hàng chục lần nữa, ở các vùng biển mà độ mặn khác nhau, dòng chảy, nhiệt độ khác nhau để hoàn chỉnh bảng tính toán áp suất.

Đầu năm 1907, Hải quân Hoàng gia Anh ban hành một quy chế, gọi là "Bảng Haldane", ấn định các nguyên tắc bắt buộc cho tất cả mọi thợ lặn nếu họ lặn ở độ sâu quá 30m. Quy chế này sau đó nhanh chóng phổ biến trên toàn thế giới và vẫn được áp dụng cho đến ngày nay, cứu sống hàng trăm nghìn thợ lặn mặc dù các thiết bị lặn ngày nay đã hiện đại hơn rất nhiều. 

McCulloch, chủ một trường dạy lặn tư nhân ở thành phố Miami, bang Florida, Mỹ, cho biết tất cả những người ghi danh học lặn biển ở trường ông đều phải học thuộc lòng Bảng Haldane; còn Kent Ali, giáo viên dạy lặn biển ở khu du lịch đảo Bali, Indonesia, nói: "Bảng Haldane là bài học nhập môn bắt buộc cho tất cả mọi học viên. Trong quá trình lặn rồi lúc nổi lên, hướng dẫn viên của chúng tôi yêu cầu tất cả phải tuân theo thời gian nghỉ, có trong bảng này". Bên cạnh đó, rất nhiều những quốc gia khác có nghề đánh cá, lặn bắt hải sản cũng tổ chức những buổi tuyên truyền cho ngư dân biết về nguyên tắc giảm áp khi lặn sâu dựa theo Bảng Haldane nhằm tránh những tai nạn đáng tiếc.

Ngày 18-9-2014, một thợ lặn người Ai Cập là Ahmed Gabr đã lặn xuống độ sâu 332,35m ở Biển Đỏ, lập kỷ lục thế giới về lặn sâu. Để đạt đến độ sâu đó, Ahmed Gabr mất 14 phút nhưng khi ngoi lên, tuân theo Bảng Haldane, ông phải mất 13 tiếng rưỡi để giải nén với 12 điểm dừng. Việc kiểm tra các chức năng sinh hóa trong cơ thể của  Ahmed Gabr cho thấy ông hoàn toàn thoát khỏi mọi quy luật của "bệnh giảm áp"…

Vũ Cao (theo Royal Navy - Haldane Schedule)

Các tin khác

Koral - Tên lửa đất đối không của Ukraine

Koral - Tên lửa đất đối không của Ukraine

Tên lửa đất đối không Koral (đôi khi cũng được viết là Coral) dường như đã ra mắt công chúng như một phần trong loạt hệ thống vũ khí nội địa mới của Ukraine được giới thiệu gần đây.

Những thử nghiệm độc đáo của NASA trong không gian

Những thử nghiệm độc đáo của NASA trong không gian

Các thí nghiệm trên tàu con thoi vũ trụ đã chỉ ra rằng vi khuẩn Salmonella, một nguồn gây ngộ độc thực phẩm phổ biến và đôi khi gây tử vong, trở nên độc hại hơn trong không gian. Đó là nghiên cứu được thực hiện trên chuyến bay STS-115 của tàu Atlantis năm 2006 và STS-123 của tàu Endeavour hai năm sau đó...

Báo động tình trạng ma túy xâm nhập học đường

Báo động tình trạng ma túy xâm nhập học đường

Những lọ tinh dầu nhỏ gọn, mang vẻ ngoài vô hại như dung dịch thuốc nhỏ mắt hay tinh dầu thuốc lá điện tử đang trở thành lớp vỏ ngụy trang tinh vi cho các chất ma túy thế hệ mới. Không chỉ dừng lại ở việc sử dụng, mà đau lòng hơn, nhiều em học sinh còn mua bán, tàng trữ ngay trong môi trường học đường, gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng mua bán ma túy ngày càng trẻ hóa.

Hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh đầu cấp

Hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh đầu cấp

Những ngày gần đây, các địa phương trên cả nước đang tất bật triển khai công tác tuyển sinh đầu cấp. Với thành phố đông dân, tập trung nhiều trường học như Thủ đô Hà Nội, công tác tuyển sinh càng được chú trọng thay đổi; từ khâu đăng ký dự thi, tra cứu thông tin đến công bố kết quả triển khai đồng bộ các nền tảng trực tuyến, mang lại sự thuận tiện và minh bạch hơn cho phụ huynh, học sinh.

Một quyết định tháo gỡ

Một quyết định tháo gỡ

Chiều 5/12/2025, với 439/443 đại biểu biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua thông Luật Giám định tư pháp sửa đổi, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/5/2026. Luật này đã khôi phục “quyền” giám định pháp y thương tích trên người sống của các bác sĩ pháp y CAND…

Một vụ mạo danh và sự ra đời của pháp lý về danh tính

Một vụ mạo danh và sự ra đời của pháp lý về danh tính

Giữa thế kỷ XVI, tại một ngôi làng nhỏ miền Nam nước Pháp, một người đàn ông trở về sau nhiều năm mất tích và được cả cộng đồng thừa nhận là Martin Guerre. Ông được vợ chấp nhận, được gia đình đón nhận, thậm chí tham gia các tranh chấp tài sản như một chủ hộ thực sự. Chỉ có một sự thật mà không ai nhận ra trong nhiều năm: ông không phải Martin Guerre. Vụ án sau đó không chỉ là câu chuyện về một kẻ mạo danh, mà còn trở thành một trong những hồ sơ đầu tiên đặt nền móng cho tư duy pháp lý về danh tính con người - một vấn đề mà hơn 4 thế kỷ sau vẫn còn nguyên tính thời sự.

Chúng ta quá dễ bị tổn thương khi dữ liệu trở thành vũ khí

Chúng ta quá dễ bị tổn thương khi dữ liệu trở thành vũ khí

Cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran mới đây nhắm vào trung tâm dữ liệu của các hãng công nghệ lớn tại Trung Đông bất ngờ gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với thế giới: cơ sở hạ tầng dữ liệu đã chuyển từ tài sản thương mại thành mục tiêu chiến lược.

Cuộc chạy đua tên lửa dẫn đường chính xác

Cuộc chạy đua tên lửa dẫn đường chính xác

Các cường quốc hàng đầu hiện đang bắt đầu hiểu được những thay đổi mang tính cách mạng do tiềm năng sử dụng rộng rãi các loại vũ khí chính xác tầm xa mang lại. Ở quy mô mà tên lửa chiến thuật có thể được sản xuất và triển khai hàng nghìn chiếc, tên lửa hành trình hàng chục nghìn chiếc và máy bay không người lái cảm tử tầm xa hàng triệu chiếc mỗi năm, tác động của chúng sẽ tương đương với vũ khí hạt nhân, ít nhất là ở cấp độ chiến thuật. Tất nhiên, giải pháp tối ưu sẽ luôn là sự kết hợp của cả hai, nhưng hoàn toàn có thể trong vòng 5 đến 10 năm tới, chính các loại vũ khí tầm xa, độ chính xác cao sẽ có khả năng giải quyết nhiệm vụ chính là đánh bại kẻ thù từ xa mà không cần sử dụng máy bay có người lái.

Những vũ khí mới Mỹ tấn công Iran được nâng cấp từ chính vũ khí nổi tiếng của Tehran

Những vũ khí mới Mỹ tấn công Iran được nâng cấp từ chính vũ khí nổi tiếng của Tehran

Cuộc chiến với Iran đang trở thành nơi thử nghiệm cho các loại vũ khí mới nhất của Mỹ. Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng một số loại vũ khí mới để thực hiện các cuộc tấn công chống lại Tehran. Chúng bao gồm tên lửa đạn đạo tầm ngắn và máy bay không người lái (UAV) tấn công giá rẻ. Loại này được Mỹ cải biên từ công nghệ UAV của Iran. Các nhà quan sát cũng phát hiện ra một biến thể mới của tên lửa hành trình phóng từ tàu chiến.

Data “nóng” lên sàn “chợ đen”

Data “nóng” lên sàn “chợ đen”

Bỗng một ngày nào đó, người ta bàng hoàng khi phát hiện hình ảnh của mình bị rao bán trên mạng với cảnh nhạy cảm, bị cắt ghép, chắp vá thành những món hàng “nóng” và bị trao đổi, mua bán như mớ rau, cân cá trên “chợ đen”. Đây là thực trạng đáng báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và nhân phẩm con người, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho cộng đồng và xã hội...

DNA và vụ án “giết người chưa từng gặp”

DNA và vụ án “giết người chưa từng gặp”

DNA của một người vô gia cư Mỹ được tìm thấy dưới móng tay một nạn nhân bị giết, nhưng anh chưa từng gặp người đó trong đời, và từ nghịch lý này, một sự thật lộ ra: thứ được coi là bằng chứng chắc chắn nhất lại có thể đẩy một người vô tội đến sát bờ vực bị kết án.

Công nghệ kỹ thuật số tham chiến tại Trung Đông

Công nghệ kỹ thuật số tham chiến tại Trung Đông

Khi công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ kỹ thuật số ngày càng được sử dụng nhiều trong hoạt động quân sự, chiến sự giữa Mỹ, Israel và Iran cho thấy cách thức tiến hành chiến tranh đang thay đổi nhanh chóng. Khi dữ liệu trở thành mục tiêu và AI trở thành công cụ ra quyết định, ranh giới giữa chiến tranh truyền thống và chiến tranh công nghệ cao gần như bị xóa nhòa.

AI tái định nghĩa ưu thế quân sự?

AI tái định nghĩa ưu thế quân sự?

Mới đây, một công ty công nghệ quốc phòng Trung Quốc tuyên bố hệ thống AI của họ đã phát hiện tín hiệu từ máy bay ném bom tàng hình B-2 của Mỹ và dấu hiệu huy động quân sự nhiều tuần trước khi cuộc xung đột với Iran leo thang.

Tên lửa bí ẩn từ vũ trụ của Israel

Tên lửa bí ẩn từ vũ trụ của Israel

Việc Israel sử dụng tên lửa Blue Sparrow đã thu hút sự chú ý toàn cầu vì quỹ đạo bay bất thường, tốc độ cao và khả năng tấn công các vị trí được phòng thủ kiên cố mà không cần nhiều cảnh báo.

Vụ rò rỉ hơn 16 tỷ mật khẩu lớn nhất lịch sử

Vụ rò rỉ hơn 16 tỷ mật khẩu lớn nhất lịch sử

Hơn 16 tỷ mật khẩu và thông tin đăng nhập bị phơi bày trên không gian mạng đã tạo ra cú sốc lớn đối với giới an ninh toàn cầu. Vượt ra ngoài con số kỷ lục, vụ rò rỉ đã phơi lộ một thực tế đáng lo ngại: các lỗ hổng an ninh đang âm thầm kết nối, và chuyển hóa thành mối đe dọa có tính hệ thống.

Cuộc chiến quyền lực kỹ thuật số

Cuộc chiến quyền lực kỹ thuật số

Việc kiểm soát các tuyến cáp quang ngầm dưới biển, huyết mạch của mạng Internet toàn cầu, đã trở thành chiến tuyến mới trong cuộc chiến giành quyền lực kỹ thuật số. Trong các vùng biển tranh chấp, sức mạnh thường được coi là một màn trình diễn.

ChatGPT - vũ khí của nữ sát thủ

ChatGPT - vũ khí của nữ sát thủ

Một phụ nữ 21 tuổi ở Hàn Quốc vừa bị cáo buộc đã sử dụng phần mềm ChatGPT để giúp trả lời các câu hỏi khi cô ta lên kế hoạch cho một loạt vụ giết người khiến hai người đàn ông thiệt mạng và một người khác bất tỉnh trong giây lát.