Trường hợp vào dạng cổ xưa nhất có thể là câu chuyện huyền thoại nhưng lại rất đậm đà đặc tính hiện thực: Thánh Gióng. Khi đất nước lâm nguy thì tất cả những ai dù lớn dù nhỏ, dù thành phần xuất thân như thế nào nhưng nếu có thể đóng góp được cho công cuộc cứu quốc thì đều được huy động vào trận. Và chính nhờ sự trọng dụng ấy mà cậu bé ba tuổi có thể lớn vụt thành tráng sĩ, đủ sức đánh đuổi giặc ngoại xâm dù hùng mạnh đến mấy ra khỏi bờ cõi...
Thực tế lịch sử đã không chỉ một lần cho thấy, người Việt qua các bậc minh quân của mọi triều đại đều biết tìm cách chiêu hiền đãi sĩ để thu hút những đại diện tinh hoa nhất của dân tộc tham gia triều chính, bảo vệ tổ quốc, xây dựng giang sơn. Có lẽ đó cũng là bí quyết lớn nhất đã giúp nhà Trần ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, đạo quân hùng hậu nhất thời bấy giờ, từng tung vó ngựa đô hộ cả một không gian rộng lớn từ đông sang tây... Chính nhờ mắt xanh của một minh quân như vua Trần Nhân Tông mà một vị tướng lắm tài nhiều tật như Trần Khánh Dư sau khi bị huyền chức về làm người bán than ở Chí Linh mới lại có thêm một cơ hội để phụng sự xã tắc và lưu danh thiên sử....
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, Trần Khánh Dư do có công đánh giặc nên được vua Trần Thánh Tông phong làm con nuôi. Thế rồi, đắc chí sinh hư, ông đã phạm trọng tội, mang nhờ ân vua nên chỉ bị đoạt hết quan tước, tịch thu tài sản. Trong cảnh cùng cực, Trần Khánh Dư đã phải về bán than ở đất cũ của cha. Một lần, vua Trần Nhân Tông đi thuyền đỗ ở bến Bình Than, nhìn thấy Trần Khánh Dư đang lái con thuyền chở than củi đi bán mới cho người triệu về, ban cho áo ngự, dự việc triều đình. Kết quả là Trần Khánh Dư lại lập công lớn trong lần tiếp theo đất nước chống quân Nguyên... Tất nhiên, Trần Khánh Dư không phải là một con người hoàn hảo nhưng nhờ cách sử dụng người của vua nhà Trần mà ông đã đóng góp được phần tinh hoa nhất của ông cho sự nghiệp chung...
Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng rất biết cách huy động nhân tài trong số những người nô bộc của mình. Yết Kiêu và Dã Tượng chính là những nhân tài như thế và tri ân chủ tướng, đã có những đóng góp quan trọng trong các võ công của Hưng Đạo vương trong các cuộc chiến đấu chống lại quân Nguyên Mông... Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, chính Trần Hưng Đạo đã nói về đóng góp của những chiến tướng vốn xuất thân từ nô bộc này bằng những lời đầy cảm khái: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu trụ cánh thì cũng chỉ là chim thường thôi...”.
Tượng đồng Phật hoàng Trần Nhân Tông được đúc bằng đồng nguyên khối, đặt trên đỉnh An Kỳ Sinh (Yên Tử, Quảng Ninh). Ảnh: Quý Đoàn.
Lê Lợi ngay từ đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng đã giương cao ngọn cờ tụ nghĩa để thu hút nhân tài cả nước vào cuộc chiến đấu sinh tử đánh đuổi giặc Minh tàn bạo. Và ngay sau khi giành lại được giang sơn, năm 1429, vua Lê Thái Tổ đã lệnh cho danh thần Nguyễn Trãi viết Chiếu cầu hiền tài: “Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cầu hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi... Nay trẫm chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người...”. Chính ở giai đoạn đó mà nhà Lê đã đặt ra thể lệ chiêu hiền đãi sĩ, biến đó thành một chế tài bắt buộc và có thưởng: “... Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tùy tài cho chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế, Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng...”.
Đến đời vua Lê Thánh Tông, triều đình đã đánh giá cao nhân tài đến mức có thể treo lên bia Văn Miếu câu danh ngôn bất hủ mà hiền sĩ Thân Nhân Trung đã vâng mệnh vua mà đúc kết trong bài ký Đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ ba: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia...”. Bài ký này còn nhấn mạnh: “Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Bởi thế các Đức Thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ có mối quan hệ thật là quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, vì thế cái ý tôn trọng thật là vô cùng...”.
Cũng chính ở thời điểm đó đã nảy sinh ra ý tưởng ưu đãi các bậc hiền tài không chỉ “bằng khoa danh” hay “gia thêm bằng tước trật...” mà còn “cho dựng đá đề tên đặt ở Quốc Tử Giám khiến kẻ sĩ trông lên thấy hâm mộ, phấn khởi, cố gắng rèn luyện danh tiết, dốc sức giúp rập Hoàng gia...”. Bởi lẽ, “việc dựng tấm bia đá này lợi ích biết chừng nào, kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà cố gắng. Làm sáng tỏ những điều đã qua, mở rộng dạy bảo cho hậu thế, một là để dài mãi tư chất danh tiết cho kẻ sĩ, hai là củng cố sự bền vững của quốc gia”.
Cũng trong triều đại nhà Lê, ngay cả khi vận nước không hẳn đã ở thế đi lên nhưng ý tưởng trọng dụng người tài vẫn được duy trì và nâng cấp. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong các tác phẩm biên khảo của mình cũng đã đúc kết nhiều kinh nghiệm sử dụng nhân tài sao cho ích nước lợi dân. Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã nêu ra 6 việc cần làm để “dùng người tài”:
- Bầy tôi ở triều đình, cần người sáng suốt thể lệ trị an, vạch ra đường lối chính trị và có kiến thức rộng rãi.
- Bầy tôi về văn sử, cần người trứ thuật hiến chương, không bỏ sót phép tắc tiền cổ.
- Bầy tôi về quân sự, cần người quả quyết có cơ mưu, mạnh khỏe, thành thạo việc chiến đấu.
- Bầy tôi nơi phiến trấn, cần người hiểu rõ phong tục, thanh khiết, yêu dân.
- Bầy tôi phụng mệnh đi sứ, cần người biết ứng biến, theo lẽ phải, không phụ mệnh lệnh của vua đã giao phó cho.
- Bầy tôi giữ việc xây dựng, cần người thạo công việc, đỡ hao phí, có nghệ thuật trong việc mở mang...”.
Cũng chính Lê Quý Đôn đã nhấn mạnh tới sự không quá cầu toàn trong việc sử dụng nhân tài và nhu cầu “dụng nhân như dụng mộc”. Ông viết: “Người ta có điều sở trường, có điều sở đoản, thì có thể nào khắc trách ở một người phải làm đầy đủ được sáu điều đâu? Chỉ cần người nào cũng đều hiểu rõ ý nghĩ, giữ được một chức cho được hoàn hảo, như thế đã không hổ thẹn rồi...”.
Bác Hồ ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công cũng đã nối tiếp mạch nguồn tư tưởng truyền thống của ông cha trong việc chiêu hiền đãi sĩ cho chính quyền nhân dân. Trong bài viết Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban Nhân dân đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 4-10-1945 với bút danh Chiến Thắng, Bác Hồ đã nhấn mạnh:
“Việc dùng nhân tài ta không nên căn cứ vào những điều kiện khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi của dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, cứ lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to thì ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy.
Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ...”.
Cũng trên báo Cứu quốc, trong số 91, ra ngày 14/11/1945, Bác đã ký tên Hồ Chí Minh dưới bài báo nhan đề Nhân tài và kiến quốc và nêu rõ: “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi. Kiến thiết cần nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều...”.
Đúng vậy, nhân tài đích thực không bao giờ là thiếu nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng...”