Bắt bệnh cho phóng viên văn nghệ

Viết đầy đủ, thì nhan đề bài báo này phải là "Thử bắt bệnh cho các phóng viên văn nghệ". "Thử", vì những điều tác giả sắp nói trong bài hoàn toàn chỉ dựa trên sự quan sát cá nhân, không có bệ đỡ vững chắc của những điều tra xã hội học "đến nơi đến chốn", nên không khỏi có những lúc rơi vào phỏng đoán, giả định, mang nặng tính suy diễn chủ quan, thậm chí vu khoát.

"Các", vì đối tượng của việc "bắt bệnh" ở đây - phóng viên mảng văn nghệ - chắc chắn không phải một người, không phải vài người, mà là một số phổ biến (cũng không phải tất cả, dĩ nhiên) ở mức đủ khiến người ta phải giật mình lo lắng cho tương lai của mảng văn nghệ trên báo chí nước nhà.

Vậy đó là những bệnh nào? Xin được tạm gọi ra một số cái tên bệnh như sau:

1. Bệnh ghét sự chậm rãi

Bệnh này, xét cho đến cùng, là căn bệnh mang tính thời đại, thời đại của chúng ta, thời của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Người ta yêu thích tốc độ đến mức rốt cuộc trở nên sùng bái nó. Nhanh hơn, nhanh hơn nữa; gấp hơn, gấp hơn nữa! Các phương tiện giao thông liên tục được cải tiến kĩ thuật để có thể nuốt một quãng đường tối đa trong một khoảng thời gian tối thiểu. Thức ăn biến thành fastfood. Trứng gà, trứng vịt được cho vào lồng ấp để nở cho nhanh. Nước trà đóng chai, khỏi cần phải hỏa lò, chén tống chén quân kích rích. Viết thư tay gửi theo đường bưu điện bị thư điện tử tiêu diệt v.v...

Có thể dẫn ra làm ví dụ hàng tá những thứ bị cắt xén, bị giản lược để tiết kiệm thời gian theo kiểu như vậy (thời gian tiết kiệm được có thực sự trở nên có ý nghĩa hay không lại là chuyện khác, rất thường khi đó là thứ thời gian không biết để làm gì, vô nội dung, rỗng tuếch). Vậy thì, hà cớ gì báo chí - ở đây là báo chí về mảng văn nghệ - lại khước từ tốc độ? Ngày trước, cả tháng, rồi nửa tháng, rồi một tuần mới ra được một số báo; nay thì một tuần bảy số, nửa tháng mười lăm số, cả tháng ba mươi số, đằng nào hơn?

Bắt bệnh cho phóng viên văn nghệ ảnh 1

Hồi trước, cánh phóng viên mảng văn nghệ tiêu phí ngày rộng tháng dài vào việc tỉ mẩn kỳ khu với từng đề tài, từng câu chữ, thậm chí từng dấu chấm dấu phẩy. Nay thì không ai có quyền "xài sang" như thế nữa: xã hội đang phát triển sôi lên sùng sục, đời sống văn nghệ ngày hôm sau thoắt cái đã khác ngày hôm trước, hối hả, quay cuồng. Cứ lọ mọ như "các cụ" thì ngửi khói làng văn nghệ không xong mà bản báo thì có nguy cơ phải chịu cảnh cháy bài. Bởi thế, phóng viên văn nghệ ngày nay là phải liên tục, liên tục: hết họp báo lại đi dự triển lãm, vừa nhào vào nhà hát kịch lại bổ tới rạp chiếu phim. Để lấy thông tin, lấy tài liệu, rồi còn mau mau viết bài cho kịp ra báo nữa. Không thể bắt chước ông Kundera mà ca ngợi sự chậm rãi được. Sự chậm rãi đáng ghét! Chậm rãi nghĩa là tụt hậu với yêu cầu của báo chí.

Thế nhưng, như một phóng viên già đời với mảng văn nghệ từng ngậm ngùi tổng kết: "Mình viết báo suốt mấy chục năm, đến nay ngẫm lại mới thấy không biết thật ra thì mình biết được cái gì cho đến đầu đến đũa?". Té ra, sự chậm rãi mà ông nhà văn người Séc nọ ca ngợi, nếu áp vào mảng báo chí văn nghệ của ta thì hình như cũng có cái lý của nó chứ chẳng chơi.   

2. Bệnh ghét tác phẩm nghệ thuật

Bệnh ghét sự chậm rãi nói trên là bệnh từ ngoài vào trong, từ trên ép xuống, nói gọn là bệnh do "hoàn cảnh khách quan". Nhưng bệnh ghét tác phẩm nghệ thuật là bệnh phát từ trong ra ngoài (tại sao lại từ trong ra ngoài thì xin miễn cho người viết cái việc phải trả lời quả quyết. Phải chăng do ông Platon dạy rằng nghệ thuật chỉ là cái bóng của cái bóng của ý niệm, nghĩa là thứ hai lần lừa dối?). Với phóng viên văn nghệ mà nói, ghét tác phẩm nghệ thuật quả thực là căn bệnh trầm kha. Nó biểu hiện ở chỗ người ta cảm thấy đau đớn tựa bị tra tấn khi buộc phải thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật nào đó, bất kể hay hay dở.

Đọc cuốn sách mới được vài ba trang đã thấy buồn ngủ, xem một bộ phim thấy nhức mắt, theo dõi một vở kịch thấy nó sao mà giả tạo thế không biết, vào triển lãm mĩ thuật vừa bị hoa mắt vì hình khối màu sắc vừa phải mất công mắng thầm mấy tay họa sĩ chỉ giỏi bôi quệt lăng nhăng. (Trong một tiểu luận có tên "Không không là không!", nhà văn Hồ Anh Thái nói đến việc dân ta đang dần mất thói quen tiêu thụ văn hóa: cho họ vé đi xem phim, xem kịch, tặng họ hoặc cho họ mượn sách, thì họ cũng xem cũng đọc cả đấy, xem xong, đọc xong còn bình luận rất rôm rả, thậm chí rất sâu sắc. Nhưng bảo họ bỏ tiền mua thì... không không là không! Người viết bài này không phản đối cái nhìn ấy, nhưng lại chỉ muốn nói tới trường hợp tác phẩm nghệ thuật bị ghét). Ghét, thậm chí ghét tác phẩm nghệ thuật đến mức căm thù, ấy thế nhưng vẫn phải nói phải viết về nó, thì làm thế nào? Dễ lắm.

Chẳng dại gì phải ép mình chịu đựng tác phẩm từ đầu tới cuối. Ai đó tìm thấy cái gọi là khoái cảm thẩm mỹ trong việc thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thì cứ việc. Còn với những phóng viên văn nghệ mắc bệnh này, đọc bìa bốn của cuốn sách, hoặc đọc lời nói đầu sách thôi. Xem kịch làm gì, xem tờ giới thiệu mà nhà hát phát cho khán giả trước khi vào rạp là đủ.

Với phim, chỉ một đoạn clip quảng cáo của nhà sản xuất là thừa thông tin. (Người viết bài này biết có những phóng viên văn nghệ truyền hình có mặt ở mọi buổi biểu diễn ra mắt tác phẩm sân khấu mới, nhưng chỉ là có mặt khoảng 15 phút trong tổng số 90 - 120 phút của vở diễn, để ghi hình, sau 15 phút quý giá ấy thì vĩnh viễn không bao giờ có chuyện anh/chị ta trở lại rạp hát để can đảm và bình tĩnh xem vở diễn từ lúc mở màn tới lúc hạ màn). Đại loại thế. Và rồi cuối cùng thì họ cũng vẫn có bài, véo von, ngọt ngào, đâu ra đấy. Các anh có thể nghi ngờ những phán đoán giá trị của tôi về thứ tôi chỉ biết nó theo kiểu chuồn chuồn đạp nước, cưỡi ngựa xem hoa.

Nhưng có sao, nhiều người khác cũng thế. Vả lại, không lẽ tôi phải hy sinh thời gian ngồi cafe buôn chuyện hoặc thời gian đi shopping hoặc thời gian kiếm tiền trên sàn chứng khoán để gồng mình chịu đựng thứ tôi vốn ghét? Tình yêu, bản chất của nó là tự nhiên, tự nguyện, là "trực chỉ nhân tâm" theo cách nói của Thiền. Tôi không hề là người có lỗi nếu cố mãi mà tôi vẫn không sao bắt mình yêu được tác phẩm nghệ thuật và tìm thấy niềm vui trong việc thưởng thức nó!--PageBreak--

3. Bệnh ghét việc viết báo

Bệnh này, xét cho cùng, là bệnh do chọn nhầm nghề mà ra. Vì có cha mẹ hoặc người thân đang làm trong tòa báo hoặc trong đài truyền hình, tôi dễ dàng được nhận vào làm một chân phóng viên mặc dù tôi vốn không mấy mặn mà với nghề chữ nghĩa. Vì thật ra tôi cũng chẳng biết tôi có những tố chất tự nhiên của người viết báo hay không, nhưng háo hức trước cái viễn cảnh vinh quang của "quyền lực thứ tư", tôi cày cục xin được "sống chết với nghề".

Vào rồi mới thấm nỗi trần ai của cái sự mà nhà Phật gọi là "oán tăng hội khổ" - cái khổ của việc ghét nhau chết bỏ mà vẫn bị phải chung sống với nhau. Kẻ nào đó trong số các người có thể tìm thấy niềm vui ở việc viết về mảng văn nghệ, bảo rằng như thế là đang sáng tạo ra văn bản thứ hai - một thế giới của mình, tồn tại bên cạnh văn bản thứ nhất, tức cái thế giới mà người nghệ sĩ đã sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật của anh ta - tôi thì không. (Nếu như tôi "kiêm" thêm cả bệnh ghét tác phẩm nghệ thuật nữa, thì cái sự không sẽ được nhân đôi!).

Nhưng nếu vậy thì tôi phải bỏ nghề báo chăng, cái nghề xét ra cũng mang lại thu nhập đủ sống, mà trong khi ngoài kia biết bao kẻ đang thất nghiệp? Giải quyết rắc rối này dễ lắm. Thay vì việc phải trần mình đem cái tôi nhà báo "lẩy bẩy như Cao Biền dậy non" của mình ra để đối diện và đối thoại với tác phẩm, tôi lấy cái tôi của người khác lấp vào. Hạ sách là bê nguyên xi sản phẩm của phóng viên báo bạn, đặt tên mình dưới bài viết - cách này dễ dẫn đến kiện tụng phức tạp, rồi sau lại ỳ xèo lời ra tiếng vào.

Thượng sách là xào xáo mỗi thứ một tý, thêm chút gia vị mắm muối - cách này an toàn hơn, cho dẫu độc giả có cảm giác là gặp vài "người quen" trong bài báo của tôi thì cũng chẳng làm gì được (người viết bài này không nói tới việc phóng viên văn nghệ nhờ vả, thuê mướn người khác viết hộ, vì đó là trường hợp... ngoại sách). Xã hội, và thủ trưởng các cơ quan báo chí, vẫn yêu cầu nhà báo không được "chủ quan" khi nhìn nhận vấn đề, thì giải quyết theo cách như vậy dứt khoát là "không chủ quan" rồi còn gì!

Bệnh ghét việc viết báo sẽ khó nhận diện hơn một chút nếu ta xét tới mảng báo chí văn nghệ truyền hình. Television, đó là câu chuyện của thị giác (vision - cái nhìn). Hình ảnh là quan trọng, lời là thứ yếu, thậm chí không là gì cả - nhiều phóng viên biên tập của văn nghệ truyền hình, nhất là những người cả đời không bao giờ viết nổi chữ nào ra hồn, vẫn nói vậy. Thì cũng đúng. Nhưng, như Kinh Thánh dạy: "Khởi thủy là lời", hay như một định nghĩa cơ bản của logic học: "Ngôn ngữ là công cụ cơ bản của tư duy", coi rẻ lời tức là ta đã quên mất, hoặc không biết rằng khi ta tính toán lấy hình ảnh này chứ không lấy hình ảnh kia, chuyển động trong hình ảnh phải thế này chứ không thể là thế nọ, thì cái trước tiên hiện ra trong đầu là ngôn ngữ, là lời về sự tính toán ấy, chứ không phải hình ảnh. Ngay cả những thước phim chỉ có hình ảnh, không có lời, thì không phải là lời không tồn tại, mà nên hiểu là nó tồn tại ở trạng thái không được nói ra, là "sự im lặng hùng biện".

Nói gọn, bảo rằng phóng viên biên tập của văn nghệ truyền hình không cần đến kỹ năng viết, thì đó chẳng qua chỉ là sự ngụy biện vụng về của những anh chọn nhầm nghề. Và thực tế đã chứng minh rằng anh nào viết không nổi thì hình ảnh cũng nhập nhoạng, anh nào hình ảnh tốt - tôi muốn nói tới thứ hình ảnh mang nghĩa, chứ không phải thứ hình ảnh đèm đẹp nịnh mắt nhưng rỗng nghĩa - chắc chắn là người "có chữ". Tính biện chứng của sự yêu/ghét công việc viết báo trong trường hợp này có thể được hiểu là như vậy.

Với vài thứ bệnh sơ sơ kể trên của phóng viên, hỏi đáng lo hay không đáng lo cho tiền đồ của báo chí văn nghệ nước nhà?

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?