Bái, vái, xá lạy như chày máy

Sáng nọ trên đường xuống phố, đến đoạn cuối chân cầu Kiệu, y chứng kiến một hình ảnh lạ lùng: Có nhà sư đi khất thực, cứ đi một bước lại dừng, cúi rập người, mặt áp sát đất, vái một vái rồi đứng dậy, tiếp tục lặp lại động tác ấy. 

“Nhất bộ nhất bái” đấy chăng? Giữa cả một rừng người đang tất bật ngược xuôi, lách đầu này đánh võng đầu kia, người chen ngang kẻ tạt dọc cứ như thể bằng mọi cách phải chạy đua với thời gian dù chỉ khoảnh khắc, chỉ tích tắt. 

Ngược lại, nhà sư kia vẫn cứ bình thản như không, cứ từng bước một, nhịp nhàng, khoan thai, không nôn nóng. Nhìn thấy, khâm phục. Nhìn thấy, chợt rùng mình phát khiếp.

Nhìn thấy lại nghĩ

Sáng hôm ấy, sau khi dừng xe, đứng ngẩn tò te quan sát nhà sư đang từng bước, từng bước chậm rãi lên cầu Kiệu, trong lòng y lại nghĩ đến điều gì nữa? Thì đấy, vẫn là mối quan tâm về tiếng Việt. Tại sao có người dùng từ bái, có người dùng từ vái? 

Vậy, bái và vái là cùng nghĩa? Đúng thế. Vái là do từ bái gốc Hán Việt mà ra - nhằm chỉ hành động cung kính, cúi đầu, nét mặt nghiêm trang, chắp tay đưa lên hạ xuống để tỏ lòng cung kính với người khuất mày khuất mặt hoặc đấng bề trên… 

Một khi nghe ai đó nói: “Tớ bái cậu”, chắc gì bái được hiểu theo nghĩa này? Bái ở đây chỉ là cách nói tắt của từ bái phục; thật ngộ nghĩnh cũng còn được hiểu qua nghĩa khác, rằng sau khi nghe người kia có lập luận lạ đời, hành động trái khoáy gì đó, người này bèn nói “bái” lại hàm nghĩa không thèm chấp, không thèm tranh cãi dẫu nửa lời.

Bái còn là từ vay mượn từ tiếng Anh bye bye - lời từ biệt trong thân mật, tất nhiên có hẹn ngày gặp lại - nói như lời Tống biệt của một thi sĩ vô danh ở đất Bình Thuận: “Trái mù u trên núi/ Chạy xuống cửa Phan Rang/ Ông đi về ngoài nớ/ Trong lòng tôi chẳng an/ Bao giờ ông trở vô/ Gặp tôi ở giữa đàng/ Nắm tay nói chuyện chơi/ Uống rượu cười nghênh ngang”. 

Thiệt thân tình. Thiệt sảng khoái. Vậy mà sau khi du nhập vào tiếng Việt, “bái” lại còn mang thêm “trọng trách” nhằm chỉ hành động đi luôn, đi biệt, không thèm hẹn ngày tái ngộ tùy theo ngữ cảnh.

“Đi ngang nhà má, tay tôi xá cẳng tôi quỳ/ Lòng thương con má sá gì thân tôi”. Xá cũng bái/ vái. Lại còn nghe nói đến câu “lạy lục cúc bái”. Thử hỏi, lục là gì mà đi cặp kè với lạy? Ít ai ngờ lục cũng chính là lạy, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích. 

Có thể hiểu lạy lục là cấp độ cao hơn của lạy, không chỉ bái/ vái mà còn hạ mình van xin ỉ ôi khốn khổ đến tội nghiệp. Tựa như cấp độ cao hơn của bái là “bái cả nón”. Còn cúc trong cúc bái? Rằng, cúc cũng đồng nghĩa vừa nêu là nhằm chỉ động tác cúi mình.

Thử hỏi, trong việc thờ cúng, giỗ quẩy tổ tiên ở trong Nam, người ta bái/ vái/ lạy như thế nào? Nhà văn Sơn Nam giải thích: “Thông thường, tuy ông bà khá đông đã quá cố nhưng chỉ lạy ba lạy, không hơn không kém. Đó là lạy Thiên, Địa, Nhân. Khi lạy, chắp hai bàn tay lại, ngón tay để thẳng. Lúc cúi đầu thì ngửa lòng bàn tay lên, đón lấy cái trán hạ xuống”. 

Ngoài ra ông còn cho biết: “Nam Bộ là đất mới khẩn hoang, người của thế hệ sau, nhất là phía đồng bằng sông Cửu Long vẫn giữ lệ cúng thêm một mâm cơm, với thức ăn, đơn giản hơn, gọi là “mâm đất đai”. 

Người nhà thắp nhang cúng mâm này đặt ngoài cửa, khấën vái đại khái thỉnh: “Đất đai viên trạch, tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” tức thỉnh người xưa đã cư ngụ ở phần đất ruộng, đất vườn, đất thổ cư của khu vực nhà ở và phụ cận. Tiền hiền là người đầu tiên đến khai phá đất hoang, và người đã dâng đơn lên quan trên để xin hợp thức hóa, lập làng mới với quan trên”.

“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý căn bản của người Việt, bất luận là vùng miền nào. “Mâm đất đai” này ở Quảng Nam cũng không khác gì, gọi là “mâm cúng đất”. 

Họ bày biện mâm lễ trước nhà, ngoài sân rồi từ trong nhà vái vọng ra. Mâm cúng ngoài hương hoa, trà, quả, xôi chè, nhang đèn hương khói… nhất thiết phải có gạo và muối. Cúng đất đai tức là cúng thổ địa, người khuất mày khuất mặt, các bậc tiền hiền… đã từng cư ngụ trên mảnh đất mà họ đang yên ổn làm ăn sinh sống. Tấm lòng của mỗi nhà là vậy, còn cộng đồng chung thì sao? 

Ngày xưa ở Quảng Nam, hễ đến Lễ kỳ yên (cầu an) diễn ra ở đình làng thì trước đó một ngày là “Lễ nghĩa trủng” - nơi chôn những người hy sinh vì việc nghĩa, không rõ danh tính, không người thờ phụng, hồn xiêu phách lạc trải dài theo năm tháng.

Văn bia dựng ở nghĩa trủng Hòa Vang (Đà Nẵng) dưới thời vua Tự Đức, năm 1876 có câu: “Phàm người ta làm mọi việc ở đời cũng chỉ vì nghĩa hay vì lợi. Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào cũng không bỏ qua. Nơi ngày xưa là thành lũy đổ chất chồng, người ta đã vùi dập đó đây những nắm xương của những người vì nghĩa mà hy sinh... Nào đâu hương thơm, nào đâu lễ vật, ai người dâng cúng. Hoặc không người thân gần gũi, lấy ai đắp điếm nắm xương tàn nơi chín suối; hoặc do gia hương xa cách, còn ai vẫy gọi hồn thiêng trung can tới vạn dặm. Lửa đóm ma trơi, buồn khóc thâu đêm, hồn phách oan khiên, năm canh gào thét. Thảm biết chừng nào”. 

Vì lẽ đó, vào Lễ kỳ yên, ngày xưa người dân có lệ đi dẫy mả nghĩa trủng là vậy - không ngoài ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Tục lệ tốt đẹp này, liệu có còn?

Nghĩ xong lại đọc

Khi viết về đình miếu, lễ hội dân gian miền Nam, tiếc là nhà văn Sơn Nam không cung cấp cho chúng ta biết văn bản cúng tế thuở ấy. Trộm nghĩ, khảo sát từ văn bản ấy, ta có thể tìm thấy dấu vết của nhiều điều cực kỳ thú vị. Chẳng hạn, thời nhỏ, trăm lần như một, hễ mỗi chiều đi chợ về, bao giờ bà mẹ cũng lôi tuột y ra cái giếng nhà ông ngoại ở trước sân, vừa kỳ cọ vừa xối nước vừa mắng: “Mi chơi cái chi mà nhớp như lồi?”.

Vậy lồi là gì?

Tập Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux Hue) tập X in năm 1923, có bài Di tích Chàm trong văn hóa dân gian An Nam tại Quảng Nam của bác sĩ A.Salles. 

Ông cách lý giải: “Lồi” có nghĩa là mọc từ đất, nhưng lại ứng dụng vào rất nhiều sự vật thông thường liên quan với một kỷ niệm Chàm. Ta có thể căn cứ vào điều này để chứng minh các định nghĩa thứ hai của Gabriel trong từ điển của ông: “Người Lồi” là người của nước Cham-pa, có được không? 

Tại Quảng Nam, tôi không hề thấy tiếng gọi tên này được vận dụng trực tiếp cho người đã bị mai một, nhưng tôi nghĩ rằng đối với người An Nam, ý tưởng nằm trong định nghĩa này là nhắm vào đồ vật và nơi chốn. Họ gọi thành Lồi để chỉ các hào lũy phòng thủ xưa kia của người Chàm. 

Một địa điểm xưa kia được gọi là “cồn lồi”, một địa điểm khác xưa kia có cây mít to, được gọi là “mít lồi” và đây là một địa điểm rộng có nhiều gạch cho thấy một công trình xây đắp bị đổ nát (NXB Thuận Hóa - 2002, tr.222).

Vậy, “lồi” có liên quan đến người Chàm?

Trả lời câu hỏi vốn đã từng gây nhiều tranh cãi, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đã khảo sát từ văn bản cúng đất của cư dân miền Trung. Theo ông, lồi chính là “người Lồi”: “Tôi thấy ở Thừa Thiên, Quảng Nam, ngày trước lễ cúng tá thổ thường cử hành trọng thể. Tá thổ là thuê, mướn đất... Lễ này của đạo giáo, các phù thủy giữ vai trò liên lạc với người khuất mặt bằng những lối riêng để đạt những yêu cầu nào đó của người sống. Lễ tá thổ sở dĩ có vì hai lý do: để an ủi tiền dân vì đã mất đất đứng và để xin tiền dân đừng vì cơn phẫn nộ truyền kiếp mà khuấy phá kẻ hậu sinh. 

Trong các văn tế từ Thừa Thiên (tôi chưa khảo sát những vùng khác) vào Quảng Nam, dù lời văn có khác nhau, song đại ý đều chỉ đối tượng đầu tiên là: “Chủ Ngung, Man Nương”, rồi tiếp theo lời khấn vái các cô hồn khác:

Lồi, Lạc thương vong
Chàm, chợ, mọi rợ
Đăng chủ hương hồn
Đồng lai cộng hưởng

Hai câu sau là lời mời tiên dân về xơi cỗ, hai câu trước nêu lên các sắc dân. Điều đáng quan tâm ở đây: không phải người Chàm là chủ nhân ông trước tiên mà còn có những sắc dân khác đã tạo dựng nên lịch sử vùng đất này.

Từ Lồi phổ biến đến nỗi những di tích cũ của Chàm, dù thành, quách, tượng... cũng bị Lồi hóa. Thành đất ở Quảng Trị, Huế và Quảng Nam, gần Túy Loan (Đại Lộc hiện nay vẫn còn di tích) đều được gọi là thành Lồi. Bà Thiên Y A Na, trong các văn tế cũ (chẳng hạn làng Phước Ninh - Đà Nẵng) cũng gọi là Lồi Phi phu nhân. 

Một số tượng nơi này, nơi nọ cũng gọi tượng Bà Lồi. Vậy Lồi là một sắc dân có thật, không phải là Chàm, chỉ bị người sau vì thói quen đồng hóa với Chàm. Văn tế minh xác điều ấy, không lầm lẫn được” (Địa chí Đại Lộc, NXB Đà Nẵng - 1992 tr.18-19).

Thiết nghĩ, cách giải thích “lồi” trong phương ngữ Quảng Nam: “Nhớp như lồi” của ông Nguyễn Văn Xuân thuyết phục hơn cả. Tất nhiên, trong các cuộc cúng tế ấy, không thể thiếu động tác bái/ vái/ lạy mà ta vừa bàn qua. Lạy có nhiều cách lạy, tự dưng nhớ đến câu này: Lạy như tế sao/ Lạy như chày máy - hàm nghĩa vái lạy lia lịa, ca cẩm van xin luôn miệng như động tác của người tế trời đất. Tế là cúng dâng trọng thể, có chiêng trống nhặt khoan, có văn tế /văn cúng xướng lên du dương trầm bổng thống thiết.

Vậy, “Rồng chầu ngoài Huế/ Ngựa tế Đồng Nai/ Nước sông trong chảy lộn sông ngoài/ Thương người xa xứ lạc loài tới đây” thì “tế” cũng hiểu theo nghĩa này? Ai cũng quả quyết rằng, không. 

Tế trong ngữ cảnh này là chạy mau, chạy đều, chạy bon bon, chạy phăm phăm ngon lành cành đào. Ngon như cỡ xưa nay đã có nhiều quan chức nhà ta hễ thấy văn bản trình lên là nhắm mắt ký rẹt rẹt, không thèm nhìn, thèm đọc, để đến khi dư luận phản ứng ầm ầm thì lại thốt lên não nùng như than như khóc như trêu như đùa: “Tiên sư thằng đánh máy”.

Lúc ấy, đột nhiên “Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc” chứ gì?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.