Bái, vái, xá lạy như chày máy

Sáng nọ trên đường xuống phố, đến đoạn cuối chân cầu Kiệu, y chứng kiến một hình ảnh lạ lùng: Có nhà sư đi khất thực, cứ đi một bước lại dừng, cúi rập người, mặt áp sát đất, vái một vái rồi đứng dậy, tiếp tục lặp lại động tác ấy. 

“Nhất bộ nhất bái” đấy chăng? Giữa cả một rừng người đang tất bật ngược xuôi, lách đầu này đánh võng đầu kia, người chen ngang kẻ tạt dọc cứ như thể bằng mọi cách phải chạy đua với thời gian dù chỉ khoảnh khắc, chỉ tích tắt. 

Ngược lại, nhà sư kia vẫn cứ bình thản như không, cứ từng bước một, nhịp nhàng, khoan thai, không nôn nóng. Nhìn thấy, khâm phục. Nhìn thấy, chợt rùng mình phát khiếp.

Nhìn thấy lại nghĩ

Sáng hôm ấy, sau khi dừng xe, đứng ngẩn tò te quan sát nhà sư đang từng bước, từng bước chậm rãi lên cầu Kiệu, trong lòng y lại nghĩ đến điều gì nữa? Thì đấy, vẫn là mối quan tâm về tiếng Việt. Tại sao có người dùng từ bái, có người dùng từ vái? 

Vậy, bái và vái là cùng nghĩa? Đúng thế. Vái là do từ bái gốc Hán Việt mà ra - nhằm chỉ hành động cung kính, cúi đầu, nét mặt nghiêm trang, chắp tay đưa lên hạ xuống để tỏ lòng cung kính với người khuất mày khuất mặt hoặc đấng bề trên… 

Một khi nghe ai đó nói: “Tớ bái cậu”, chắc gì bái được hiểu theo nghĩa này? Bái ở đây chỉ là cách nói tắt của từ bái phục; thật ngộ nghĩnh cũng còn được hiểu qua nghĩa khác, rằng sau khi nghe người kia có lập luận lạ đời, hành động trái khoáy gì đó, người này bèn nói “bái” lại hàm nghĩa không thèm chấp, không thèm tranh cãi dẫu nửa lời.

Bái còn là từ vay mượn từ tiếng Anh bye bye - lời từ biệt trong thân mật, tất nhiên có hẹn ngày gặp lại - nói như lời Tống biệt của một thi sĩ vô danh ở đất Bình Thuận: “Trái mù u trên núi/ Chạy xuống cửa Phan Rang/ Ông đi về ngoài nớ/ Trong lòng tôi chẳng an/ Bao giờ ông trở vô/ Gặp tôi ở giữa đàng/ Nắm tay nói chuyện chơi/ Uống rượu cười nghênh ngang”. 

Thiệt thân tình. Thiệt sảng khoái. Vậy mà sau khi du nhập vào tiếng Việt, “bái” lại còn mang thêm “trọng trách” nhằm chỉ hành động đi luôn, đi biệt, không thèm hẹn ngày tái ngộ tùy theo ngữ cảnh.

“Đi ngang nhà má, tay tôi xá cẳng tôi quỳ/ Lòng thương con má sá gì thân tôi”. Xá cũng bái/ vái. Lại còn nghe nói đến câu “lạy lục cúc bái”. Thử hỏi, lục là gì mà đi cặp kè với lạy? Ít ai ngờ lục cũng chính là lạy, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích. 

Có thể hiểu lạy lục là cấp độ cao hơn của lạy, không chỉ bái/ vái mà còn hạ mình van xin ỉ ôi khốn khổ đến tội nghiệp. Tựa như cấp độ cao hơn của bái là “bái cả nón”. Còn cúc trong cúc bái? Rằng, cúc cũng đồng nghĩa vừa nêu là nhằm chỉ động tác cúi mình.

Thử hỏi, trong việc thờ cúng, giỗ quẩy tổ tiên ở trong Nam, người ta bái/ vái/ lạy như thế nào? Nhà văn Sơn Nam giải thích: “Thông thường, tuy ông bà khá đông đã quá cố nhưng chỉ lạy ba lạy, không hơn không kém. Đó là lạy Thiên, Địa, Nhân. Khi lạy, chắp hai bàn tay lại, ngón tay để thẳng. Lúc cúi đầu thì ngửa lòng bàn tay lên, đón lấy cái trán hạ xuống”. 

Ngoài ra ông còn cho biết: “Nam Bộ là đất mới khẩn hoang, người của thế hệ sau, nhất là phía đồng bằng sông Cửu Long vẫn giữ lệ cúng thêm một mâm cơm, với thức ăn, đơn giản hơn, gọi là “mâm đất đai”. 

Người nhà thắp nhang cúng mâm này đặt ngoài cửa, khấën vái đại khái thỉnh: “Đất đai viên trạch, tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” tức thỉnh người xưa đã cư ngụ ở phần đất ruộng, đất vườn, đất thổ cư của khu vực nhà ở và phụ cận. Tiền hiền là người đầu tiên đến khai phá đất hoang, và người đã dâng đơn lên quan trên để xin hợp thức hóa, lập làng mới với quan trên”.

“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý căn bản của người Việt, bất luận là vùng miền nào. “Mâm đất đai” này ở Quảng Nam cũng không khác gì, gọi là “mâm cúng đất”. 

Họ bày biện mâm lễ trước nhà, ngoài sân rồi từ trong nhà vái vọng ra. Mâm cúng ngoài hương hoa, trà, quả, xôi chè, nhang đèn hương khói… nhất thiết phải có gạo và muối. Cúng đất đai tức là cúng thổ địa, người khuất mày khuất mặt, các bậc tiền hiền… đã từng cư ngụ trên mảnh đất mà họ đang yên ổn làm ăn sinh sống. Tấm lòng của mỗi nhà là vậy, còn cộng đồng chung thì sao? 

Ngày xưa ở Quảng Nam, hễ đến Lễ kỳ yên (cầu an) diễn ra ở đình làng thì trước đó một ngày là “Lễ nghĩa trủng” - nơi chôn những người hy sinh vì việc nghĩa, không rõ danh tính, không người thờ phụng, hồn xiêu phách lạc trải dài theo năm tháng.

Văn bia dựng ở nghĩa trủng Hòa Vang (Đà Nẵng) dưới thời vua Tự Đức, năm 1876 có câu: “Phàm người ta làm mọi việc ở đời cũng chỉ vì nghĩa hay vì lợi. Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào cũng không bỏ qua. Nơi ngày xưa là thành lũy đổ chất chồng, người ta đã vùi dập đó đây những nắm xương của những người vì nghĩa mà hy sinh... Nào đâu hương thơm, nào đâu lễ vật, ai người dâng cúng. Hoặc không người thân gần gũi, lấy ai đắp điếm nắm xương tàn nơi chín suối; hoặc do gia hương xa cách, còn ai vẫy gọi hồn thiêng trung can tới vạn dặm. Lửa đóm ma trơi, buồn khóc thâu đêm, hồn phách oan khiên, năm canh gào thét. Thảm biết chừng nào”. 

Vì lẽ đó, vào Lễ kỳ yên, ngày xưa người dân có lệ đi dẫy mả nghĩa trủng là vậy - không ngoài ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Tục lệ tốt đẹp này, liệu có còn?

Nghĩ xong lại đọc

Khi viết về đình miếu, lễ hội dân gian miền Nam, tiếc là nhà văn Sơn Nam không cung cấp cho chúng ta biết văn bản cúng tế thuở ấy. Trộm nghĩ, khảo sát từ văn bản ấy, ta có thể tìm thấy dấu vết của nhiều điều cực kỳ thú vị. Chẳng hạn, thời nhỏ, trăm lần như một, hễ mỗi chiều đi chợ về, bao giờ bà mẹ cũng lôi tuột y ra cái giếng nhà ông ngoại ở trước sân, vừa kỳ cọ vừa xối nước vừa mắng: “Mi chơi cái chi mà nhớp như lồi?”.

Vậy lồi là gì?

Tập Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux Hue) tập X in năm 1923, có bài Di tích Chàm trong văn hóa dân gian An Nam tại Quảng Nam của bác sĩ A.Salles. 

Ông cách lý giải: “Lồi” có nghĩa là mọc từ đất, nhưng lại ứng dụng vào rất nhiều sự vật thông thường liên quan với một kỷ niệm Chàm. Ta có thể căn cứ vào điều này để chứng minh các định nghĩa thứ hai của Gabriel trong từ điển của ông: “Người Lồi” là người của nước Cham-pa, có được không? 

Tại Quảng Nam, tôi không hề thấy tiếng gọi tên này được vận dụng trực tiếp cho người đã bị mai một, nhưng tôi nghĩ rằng đối với người An Nam, ý tưởng nằm trong định nghĩa này là nhắm vào đồ vật và nơi chốn. Họ gọi thành Lồi để chỉ các hào lũy phòng thủ xưa kia của người Chàm. 

Một địa điểm xưa kia được gọi là “cồn lồi”, một địa điểm khác xưa kia có cây mít to, được gọi là “mít lồi” và đây là một địa điểm rộng có nhiều gạch cho thấy một công trình xây đắp bị đổ nát (NXB Thuận Hóa - 2002, tr.222).

Vậy, “lồi” có liên quan đến người Chàm?

Trả lời câu hỏi vốn đã từng gây nhiều tranh cãi, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đã khảo sát từ văn bản cúng đất của cư dân miền Trung. Theo ông, lồi chính là “người Lồi”: “Tôi thấy ở Thừa Thiên, Quảng Nam, ngày trước lễ cúng tá thổ thường cử hành trọng thể. Tá thổ là thuê, mướn đất... Lễ này của đạo giáo, các phù thủy giữ vai trò liên lạc với người khuất mặt bằng những lối riêng để đạt những yêu cầu nào đó của người sống. Lễ tá thổ sở dĩ có vì hai lý do: để an ủi tiền dân vì đã mất đất đứng và để xin tiền dân đừng vì cơn phẫn nộ truyền kiếp mà khuấy phá kẻ hậu sinh. 

Trong các văn tế từ Thừa Thiên (tôi chưa khảo sát những vùng khác) vào Quảng Nam, dù lời văn có khác nhau, song đại ý đều chỉ đối tượng đầu tiên là: “Chủ Ngung, Man Nương”, rồi tiếp theo lời khấn vái các cô hồn khác:

Lồi, Lạc thương vong
Chàm, chợ, mọi rợ
Đăng chủ hương hồn
Đồng lai cộng hưởng

Hai câu sau là lời mời tiên dân về xơi cỗ, hai câu trước nêu lên các sắc dân. Điều đáng quan tâm ở đây: không phải người Chàm là chủ nhân ông trước tiên mà còn có những sắc dân khác đã tạo dựng nên lịch sử vùng đất này.

Từ Lồi phổ biến đến nỗi những di tích cũ của Chàm, dù thành, quách, tượng... cũng bị Lồi hóa. Thành đất ở Quảng Trị, Huế và Quảng Nam, gần Túy Loan (Đại Lộc hiện nay vẫn còn di tích) đều được gọi là thành Lồi. Bà Thiên Y A Na, trong các văn tế cũ (chẳng hạn làng Phước Ninh - Đà Nẵng) cũng gọi là Lồi Phi phu nhân. 

Một số tượng nơi này, nơi nọ cũng gọi tượng Bà Lồi. Vậy Lồi là một sắc dân có thật, không phải là Chàm, chỉ bị người sau vì thói quen đồng hóa với Chàm. Văn tế minh xác điều ấy, không lầm lẫn được” (Địa chí Đại Lộc, NXB Đà Nẵng - 1992 tr.18-19).

Thiết nghĩ, cách giải thích “lồi” trong phương ngữ Quảng Nam: “Nhớp như lồi” của ông Nguyễn Văn Xuân thuyết phục hơn cả. Tất nhiên, trong các cuộc cúng tế ấy, không thể thiếu động tác bái/ vái/ lạy mà ta vừa bàn qua. Lạy có nhiều cách lạy, tự dưng nhớ đến câu này: Lạy như tế sao/ Lạy như chày máy - hàm nghĩa vái lạy lia lịa, ca cẩm van xin luôn miệng như động tác của người tế trời đất. Tế là cúng dâng trọng thể, có chiêng trống nhặt khoan, có văn tế /văn cúng xướng lên du dương trầm bổng thống thiết.

Vậy, “Rồng chầu ngoài Huế/ Ngựa tế Đồng Nai/ Nước sông trong chảy lộn sông ngoài/ Thương người xa xứ lạc loài tới đây” thì “tế” cũng hiểu theo nghĩa này? Ai cũng quả quyết rằng, không. 

Tế trong ngữ cảnh này là chạy mau, chạy đều, chạy bon bon, chạy phăm phăm ngon lành cành đào. Ngon như cỡ xưa nay đã có nhiều quan chức nhà ta hễ thấy văn bản trình lên là nhắm mắt ký rẹt rẹt, không thèm nhìn, thèm đọc, để đến khi dư luận phản ứng ầm ầm thì lại thốt lên não nùng như than như khóc như trêu như đùa: “Tiên sư thằng đánh máy”.

Lúc ấy, đột nhiên “Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc” chứ gì?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?