Kỷ niệm 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2018)

Ba bài hát sớm nhất ngợi ca Bác Hồ

Rất nhiều người nghĩ bài hát đầu tiên về Bác Hồ là "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" (còn có tên "Lãnh tụ ca") của nhạc sỹ Lưu Hữu Phước: "Sao vàng phấp phới ánh hồng sáng tươi/ Toàn Việt Nam đón chào ngày mới...".Lý do sự hiểu chưa chính xác này có lẽ vì bài hát quá nổi tiếng và cho đến hôm nay vẫn còn được truyền tụng.

Sự thực là bài hát này ra đời năm 1948, trong khi trước đó, đã có ba bài hát viết về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đều rất được mọi người ưa thích và lưu truyền rộng rãi. Nhưng cho đến hôm nay, những người ở tuổi dưới 75 đã không biết bởi hầu như không được vang lên ở đâu nữa, ngay cả những dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của Bác thì cũng được thay thế bằng những bài hát ra đời sau này.

Bác Hồ của chúng ta trước ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà(2-9-1945) khiến cả dân tộc trầm trồ, đồn đại về một vị anh linh sắp sửa cứu giống nòi thoát khỏi ách cai trị tàn độc của đế quốc, phong kiến, Người như một huyền thoại với cái tên quen thuộc là Nguyễn Ái Quốc.

Văn bản bài hát của nhạc sĩ Lưu Bách Thụ có chữ ký của Hồ Chủ tịch.
Văn bản bài hát của nhạc sĩ Lưu Bách Thụ có chữ ký của Hồ Chủ tịch.

Danh xưng Hồ Chí Minh chỉ xuất hiện từ giây phút Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình. Khi ấy, tất thảy mọi người mới hay Người chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Ngay từ những giờ phút đầu tiên, vị lãnh tụ vĩ đại đã rất gần gũi với nhân dân từ câu Người hỏi bà con đến dự buổi mít tinh ở quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?".

Sở dĩ Người hỏi vậy vì nghĩ mình nói tiếng Nghệ An, sợ nhân dân Hà Nội nghe không rõ. Và sau đó là tiếng đồng thanh vang dậy: "Rõ ạ!". Chi tiết này đã khiến nhạc sỹ Lưu Bách Thụ có mặt tại buổi mít tinh rất xúc động. 

Ngay sau đó, ông sáng tác bài "Biết ơn Cụ Hồ Chí Minh"(Dân Nam ơi biết ơn Cụ Hồ là người bao nhiêu năm sống trong nguy nan điêu linh…). Bài hát được viết ở thểca khúc quần chúng (chanson populaire), có giai điệu tha thiết, ngọt ngào với lời lẽ hàm súc, giản dị. Cuối năm 1945, bài này được một dàn đồng ca rất hoành tráng hát lần đầu tiên tại rạp Sán Nhiên Đài ở phố Đào Duy Từ (Hà Nội) trong Hội nghị tổng kết công tác bảo vệ an ninh, trật tự những ngày đầu cách mạng mới thành công của Công an Đồn Hàng Trống.

Tiếp theo đó, tại Hội nghị gặp gỡ những người có công với cách mạng do UBHC Hà Nội tổ chức tại Nhà hát lớn, bài hát này lại được biểu diễn chào mừng, nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt của các đại biểu. Từ đó, bài hát đã lan rộng suốt từ Bắc chí Nam qua con đường truyền miệng.

Cho mãi đến sau ngày lập lại hòa bình trên miền Bắc (1954), bài hát mới  chính thức được dàn dựng, thu thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Ca khúc này có đời sống lâu bền suốt từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp cho mãi tới về sau, thi thoảng vẫn được phát lại trong các chương trình ca nhạc mỗi dịp kỷ niệm sinh nhật Bác.

Có một chi tiết không nhiều người biết. Đó là ngày11-1-1946, Lưu Bách Thụ cho xuất bản bài hát với bút danh Thụ Trang. Sau đó, nhạc sỹ xin phép Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền lúc đó là Trần Huy Liệu được gửi lên kính tặng Hồ Chủ tịch. Đến ngày 30/1 năm đó, Bác ký tên vào góc trên bên trái văn bản bài hát rồi gửi lại cho tác giả.

Người cũng chuyển lời qua Bộ trưởng Trần Huy Liệu chào tác giả và căn dặn tác giả cùng giới nhạc sỹ hãy tiếp tục sáng tác nhiều bài hát hay hơn nữa để phục vụ công nông binh, động viên toàn dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến mau chóng thắng lợi.

Lưu Bách Thụ rất vui và vinh dự, đã cuộn tròn bản nhạc có chữ ký của vị lãnh tụ kính yêucho vào ống nứa, mang theo bên mình suốt 9 năm kháng chiến. Mãi tới khi về tiếp quản Thủ đô, ông vẫn còn lưu giữ đến ngày qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông không quên dặn người nhà hãy gìn giữ  kỷ vật thiêng liêng đó.

Ngày 6-1-1946 là một ngày lịch sử không thể quên trong tâm khảm người dân Việt Nam khi ấy. Đó là ngày bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Hà Nội sáng hôm đórợp một rừng cờ đỏ sao vàng và những âm thanh sôi động, náo nức của những đám đông dân chúng với chỉ một khẩu hiệu: "Hồ Chí Minh muôn năm!" .

Lời hô không dứt tại 5 cửa ô và vang vọng khắp các phố phường, ngõ ngách. Có một nhà giáo rất giỏi nhạc tên Minh Tâm, lúc này mới 21 tuổi cũng hòa vào dòng người đi bỏ phiếu. Cảnh tượng ngày hôm đó đã khiến trái tim chàng trai trẻ rung lên những tình cảm tha thiết, thành kính nhất đối với vị lãnh tụ kính yêu vừa dẫn dắt toàn dân tộc giành độc lập, tự do.

Bỏ phiếu xong, Minh Tâm về nhà lập tức ngồi vào đàn pi-a-nô gõ phím cho vang lên những nốt nhạc đầu tiên: "Đuốc gươm thiêng vung cho nước nhà khiến dân Việt Nam thoát ách xưa…". Chàng nhạc sỹ trẻ hoàn thành bài hát một mạch mau lẹ chỉ trong chừng một giờ đồng hồ. Anh đặt luôn tên cho sáng tác của mình là khẩu hiệu đã vang lên khắp nơi trong buổi sáng hôm đó: "Hồ Chí Minh muôn năm!". 5 tiếng này đồng thời cũng là điệp khúc luôn được nhắc lại nhiều lần trong bài ca.

Sáng tác xong, bài hát cũng được tác giả gửi đến Bộ trưởng Trần Huy Liệu để xin ý kiến. Ông Liệu đồng ý và chỉ thị cần triển khai tập sớm để kịp biểu diễn chào mừng các đại biểu Quốc hội khóa I vừa trúng cử. Cuộc biểu diễn này sẽ diễn ra tại sân cỏ rất rộng là khu Đông Dương học xá (nay là địa điểm Trường Đại học Bách Khoa) có sự tham dự của hơn 3 vạn người dân Hà Nội khi đó.

Trước khi khai mạc buổi lễ chính thức, Minh Tâm cùng nhạc sỹ Đinh Ngọc Liên đã dành nửa giờ tập bài này cho các đoàn quần chúng hát trước. Đến khi chính thức biểu diễn bài hát trong buổi lễ, Hồ Chủ tịch đã nghe và sau đó gặp, chúc mừng chàng nhạc sỹ trẻ Minh Tâm. Người gọi chàng đến ngồi cạnh mình và mời thuốc lá(hồi đó chưa có việc không hút thuốc lá ở nơi công cộng như bây giờ). Cử chỉ thân thiện, gần gũi này của Bác khiến Minh Tâm nhớ mãi, như một kỷ niệm sâu sắc trong đời.

Cố nhạc sỹ Lưu Bách Thụ.
Cố nhạc sỹ Lưu Bách Thụ.

Từ đó, cứ mỗi dịp có mít tinh long trọng hay hội họp gì lớn, bài hát của Minh Tâm lại được vang lên qua dàn kèn đồng do Đinh Ngọc Liên chỉ huy sau bài Quốc ca. Đến năm 1948 mới thay thế bằng bài "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" của Lưu Hữu Phước như đã nói. Từ đó đến nay, bài này chỉ còn là một kỷ niệm đối với tác giả và những công chúng thưởng thức cùng thời mà ít có dịp vang lên ở các nơi như khi tác phẩm mới ra đời.

Trong số những nhạc sỹ thuộc dòng tân nhạc xuất hiện từ trước Cách mạng Tháng Tám, không thể không nhắc đến Nguyễn Văn Khánh. Trước nay, nhắc đến ông, người ta chỉ nghĩ tới những bài hát lãng mạn làm say đắm nhiều trái tim một thời là "Chiều vàng" và "Nỗi lòng". Nhưng ít người biết ông còn là tác giả một bài hát viết về Bác là "Nước Việt Nam có Cụ Hồ Chí Minh"cũng được nhiều người biết và hát ngay từ sau khi ra đời.

Bài này tác giả sáng tác lúc 26 tuổi, cùng thời gian với Lưu Bách Thụ viết bài "Biết ơn Cụ Hồ Chí Minh" như đã nói ở trên, tức ngay sau ngày 2-9-1945. Ngày 22-1-1946, Nguyễn Văn Khánh cho xuất bản bài hát tại Hà Nội. Sau năm 1954, ông ít sáng tác mà mở lớp dạy đàn ghi-ta tại nhà để sinh sống. Hồi đang là sinh viên, tôi từng học ông một thời gian và được ông tặng văn bản bài hát in từ đầu năm 1946.

Khi nhạc sỹ Lưu Bách Thụ chưa qua đời, một lần tôi hỏi ông vì sao lúc sáng tác bài "Biết ơn Cụ Hồ Chí Minh" vào tháng 9-1945, Bác Hồ khi ấy mới có 55 tuổi mà ông lại gọi là "Cụ". Nguyễn Văn Khánh cũng vậy, cũng gọi "Cụ" trong bài "Nước Việt Nam có Cụ Hồ Chí Minh" ra đời cùng thời điểm với bài của nhạc sỹ họ Lưu thì ông cho biết: Ngày trước, theo tập tục người Việt Nam ta, đàn ông cứ đến 50 tuổi là đã "lên lão" - một thứ bậc được mọi người cung kính, coi trọng. Thường các "cụ" ở tuổi 50 (tính theo tuổi dương là 49) được con cái, người trong nhà làm vài mâm mời họ hàng, làng xóm đến khao gọi là khao lão. Và ra đường được mọi người chào bằng "cụ".

Lúc ấy, khi cách mạng mới thành công, các vị là thành viên Chính phủ nếu tuổi trên 50 đều được mọi người tôn kính gọi bằng cụ… Hồ Chủ tịch - người đứng đầu Chính phủ cũng như vậy nên hai nhạc sỹ đã gọi bằng "cụ" trong sáng tác của mình vì lý do như thế.

Hôm nay, cả ba nhạc sỹ trên đều đã qua đời. Ba bài đều có những giá trị riêng nhưng riêng bài của Lưu Bách Thụ thì thi thoảng vẫn còn được phát trên làn sóng phát thanh. Còn hai bài của Minh Tâm và Nguyễn Văn Khánh thì chỉ còn "vang bóng một thời". Nhưng ai đã sống, chứng kiến thời khắc lịch sử đầy biến động của đất nước vào những năm 1945-1946 thì sẽ không bao giờ có thể quên ba bài hát trên.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.