Anh đi anh nhớ quê nhà...

Hỏi chuyện ái nữ của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải.

Từ Tp Hồ Chí Minh, Lan Hinh bay ra Hà Nội. Mặc dù hai chân đang rất đau vì bệnh phong thấp, bà vẫn đáp taxi đến nhà tôi - trong ngõ 273, đường Cổ Nhuế, Từ Liêm. Chuyện thăm nhau thì đã đành một nhẽ, nhưng cái việc đang băn khoăn trăn trở thì bà không thể không nói ra. Đó là việc nhiều năm rồi bà đi đi về về với quê Nam Định mong có một miếng đất nơi chôn nhau cắt rốn: Thôn Quang Xán - xã Mỹ Hà - huyện Mỹ Lộc để xây một ngôi “Á Nam lưu niệm đường” để thờ tự và lưu giữ những di vật về người cha.

Chuyện làm nhà lưu niệm thì năm 1989, Lan Hinh đã mua được một khu đất thổ cư hơn 2.000 mét vuông ở Thủ Đức làm một ngôi “Á Nam lưu niệm đường”, tuy chỉ dùng vật liệu tre nứa là chính nhưng cũng có thể coi là đẹp. Nhưng Thủ Đức chỉ là một trong những nơi định cư của gia đình, còn Nam Định mới là quê hương cố quận. Lan Hinh muốn làm một ngôi lưu niệm đường ở đây. Dự định: Nếu có lưu niệm đường, hàng năm gia tộc cụ Á Nam cùng với dân làng sẽ hội tụ về đây ít nhất một lần, vừa để giỗ chạp vừa làm một lễ trao thưởng cho một số học sinh tiêu biểu về môn Văn. “Chúng tôi muốn dùng nơi thờ tự phụ thân làm nơi khuyến khích, chấn hưng việc dạy và học Văn” - Lan Hinh nói thế. Nhưng công việc rạo rạc đã 10 năm rồi mà chưa đâu vào đâu. Tôi, người viết bài này cũng đã có thư gửi cho lãnh đạo xã Mỹ Hà. Chủ tịch xã có ý ủng hộ. Nhưng chưa kịp bắt tay làm thì đến cuộc bầu cử. Xuất hiện các vị lãnh đạo mới. Xem ra các vị lãnh đạo mới không mặn mà lắm với việc làm nhà lưu niệm cho một nhà thơ.

Về sự nghiệp văn thơ của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải cao thấp đến đâu đã có lịch sử, công chúng minh định. Lan Hinh nói, bà không dám lạm bàn nhiều về việc đó, dễ gây phản cảm. Nhưng những thông tin về cuộc đời phụ thân, bà hoàn toàn có thể nói công khai cho những ai cần biết. Chẳng hạn như cái việc học hành của cụ Á Nam. Cụ có cái không may, sinh vào thời mà khoa thi hương cuối cùng dưới triều Nguyễn đã mãn, trong khi nền Tây học thì đang chỉ mới manh nha. Bù lại, Á Nam lại có cái may mắn khác: Cha cụ là cụ Trần Văn Hoán, đỗ cử nhân năm Canh Tý (1900) và có tư tưởng Canh tân, ngưỡng mộ tinh thần cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Cụ Trần Văn Hoán còn là người khai khoa cho sự học làng Quang Xán.  Bởi vậy, thầy học của Á Nam không ai khác, chính là người cha. Á Nam chẳng đậu bằng cấp trường ốc gì nhưng nhờ trí thông minh và đức hiếu học, và chỉ học có một ông thầy là cha mình, vậy mà rồi đến tuổi tráng niên cụ đã dịch được cả văn học Hán văn và văn học Pháp văn. Hán văn thì cụ dịch: “Liêu trai chí dị”, “Thủy Hử”, “Giai anh hùng - gái thuyền quyên”, “Hồn hoa”, “Đặng Khấu Chí”, “Mạnh Tử”, “Hồng lâu mộng”, “Hồng tú toàn”… Pháp văn thì dịch “Truyện ngụ ngôn Laphôngten”, “Thơ Victor Huygo”…

Điều thứ hai bà Lan Hinh cho rằng rất đáng nói về cha mình, nói một cách tự hào, đó là lòng yêu nước thương nòi của cụ. Xưa nay người ta cũng đã viết nhiều về đặc điểm này ở cụ Á Nam. Với Lan Hinh thì lòng yêu nước thương nòi của cụ đáng chú ý nhất ở ba khía cạnh:

Một là Á Nam bước vào làng văn tương ứng với thời điểm xuất hiện phong trào Thơ Mới. Rất nhiều người nhanh chóng nhập vào dòng thơ này mà nổi danh. Còn cụ Á Nam thì cứ đau đáu với nỗi buồn vong quốc, toàn viết những: “Góp cùng kim cổ lưu bầu huyết/ Gửi nơi sơn hà một áng văn… Sống, chết, nên chăng ai xá chi/ Túi áo xênh xang ba tấc kiếm… Đời nếu chôn lấp hết công lý/ Anh hùng hào kiệt còn ra gì”… Vậy nên tập “Quyển hồn tự lập” và tập “Bút quan hoài” của Á Nam vừa ra mắt bạn đọc đã bị chính quyền bảo hộ Pháp ban lệnh thu hồi. Rồi chúng bắt Á Nam tống giam vào Hỏa Lò. Khi cụ ra tù, chúng theo dõi, áp sát đến độ không cho cụ làm nổi một bài thơ mang nỗi niềm cố quốc nào nữa. Để bớt nhớ nghề, cụ xoay ra viết và dịch một loạt tiểu thuyết võ hiệp là vì thế.

Bà Lan Hinh - con gái cụ Á Nam cùng tác giả bài viết (ngoài cùng bên trái) và Giáo sư Trần Đăng Suyền, sinh viên Lê Hoài Linh.
Bà Lan Hinh - con gái cụ Á Nam cùng tác giả bài viết (ngoài cùng bên trái) và Giáo sư Trần Đăng Suyền, sinh viên Lê Hoài Linh.

Nói đến lòng yêu nước của cụ Á Nam, người ta cũng không thể không nhắc đến một sự kiện thời cụ sống trong miền Nam, làm việc ở Thư viện Quốc gia, Viện Khảo cổ, cụ đã cùng một số nhân sĩ trí thức ký một văn bản gửi chính quyền Việt Nam cộng hòa, yêu cầu họ hiệp thương với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhằm vãn hồi hoà bình. Vì việc đó mà cụ bị buộc thôi việc.

Hai là trong lúc nhiều nhà thơ của phong trào Thơ Mới chịu ảnh hưởng văn chương phương Tây khá sâu đậm thì cụ Á Nam rất “cảnh giác” và kịch liệt chống lại sự vong bản. Với phong thái nho nhã, Á Nam không lớn tiếng kêu gọi ai, chỉ thể hiện hồn cốt dân tộc thuần Việt qua những áng thơ của mình:

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai giãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

(Bút quan hoài)

Hoặc:

Rủ nhau xuống bể tìm cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau

(Duyên nợ phù sinh)

Hoặc:

Bướm kia sao nỡ lìa hoa
Chim xanh sao nỡ bay xa vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai thương nhớ sầu đong một mình

…vv…

Á Nam dân tộc và dân gian thuần Việt đến độ, ông Vũ Ngọc Phan còn nhầm thơ cụ với ca dao, nên mới đưa thơ Á Nam vào cuốn “Kho tàng tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam ” hồi nào!

Ba là Á Nam, một người theo chân nho, nhưng không có tư tưởng chuyên chế, khắc kỷ. Á Nam xây dựng gia đình lần thứ nhất với bà Nguyễn Thị Khuê, có 5 con thì bà Khuê mất. Á Nam xây dựng lần thứ hai với bà Nguyễn Thị Lũy, lại có thêm 7 con nữa. Vậy là Á Nam có cả thảy 12 con. Cụ dạy các con từng đường ăn nét ở rất gia giáo nhưng lại mang tư tưởng Canh tân tiến bộ. Vậy nên các con cụ, trai cũng như gái đều nên người cả, trong đó có 4 người theo cha cầm bút làm thơ, cho dù thành công của họ ở mức độ khác nhau: Trần Quốc Phiên, Tuệ Mai, Lan Hinh, Trần Thị Hồng Khương.

Trong đời viết của mình, Á Nam cộng tác với hầu hết các tờ báo lớn khắp trong Nam ngoài Bắc: Khai hóa, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí (Hà Nội), Tiếng dân (Huế), Đông pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)… Á Nam chơi thân và quan hệ đồng nghiệp với khá nhiều người trong giới, như Phan Khôi, Ngô Đức Kế, Nguyễn Tường Tam, Đào Trinh Nhất, Hoàng Tích Chu, Diệp Văn Kỳ, Bùi Thế Mỹ, Dương Quảng Hàm, Đạm Phương nữ sĩ… Phần lớn họ đều quý mến cụ. Không ít người viết về cụ bằng những thịnh tình cảm động. “Từ điển văn học” ghi nhận: “Thơ ca Trần Tuấn Khải thường nói đến tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình làng nghĩa nước, nghĩa đồng chủng đồng bào, lòng thủy chung, nhân ái… đó là nếp sống, là đạo đức truyền thống của dân tộc… Và thơ ông đều có ngụ ý nhắc nhở về non sông đất nước. Đấy là cái nhìn ưu thời mẫn thế của tác giả, đồng thời đấy cũng là tình cảm phổ biến của nhiều người lúc bấy giờ thiết tha với độc lập dân tộc… Chính vì thế mà thơ ca của ông được quần chúng yêu thích.

Các bài như “Gánh nước đêm”, “Tiễn chân anh Khóa”, “Mong anh Khóa”, “Gửi thư cho anh Khóa”, “Mừng anh Khóa về” trong một thời gian dài đã được truyền tụng rộng rãi. Về mặt nghệ thuật, ngoài những bài được sáng tác theo thể thơ đường luật, ông còn viết bằng các thể thơ thuần Việt như lục bát, song thất, các điệu hát ví, hát xẩm, sa mạc, hát nói… và phần thành công chính là ở đây”. Trong “Việt Nam thi nhân tiền chiến”, tác giả cũng khẳng định: “Thơ Trần Tuấn Khải không chứa đựng triết lý bí hiểm, tư tưởng cao siêu, nó giản dị như một chân tình, nó rỡ ràng như sự phơi bày trọn vẹn cả tấc lòng. Người đọc dễ dàng đạt ý và rung động qua trực cảm, vì Á Nam đã cấu tạo thơ mình bằng nhạc điệu quen thuộc của dân tộc, cho nên sức truyền cảm rất bén nhậy. Khảo sát thơ ông, chúng tôi bắt gặp đó đây những tư tưởng đã thành châm ngôn và cũng không ngoài việc gieo vào lòng người một ý chí bất khuất, một hùng khí ngùn ngụt, một nghĩa vụ thiết yếu của con người đúng với danh nghĩa “làm người” của nó”.

Sách vở kinh điển đã viết về Á Nam như thế. Ở Sài Gòn từ lâu đã có đường phố mang tên Á Nam Trần Tuấn Khải. Thành phố Nam Định cũng đã giành một con phố mang tên Á Nam. Vậy nếu ở nơi quê hương cố quận có một ngôi “Á Nam lưu niệm đường” để thờ tự, để trưng bày những di sản của cụ truyền lại cho đời sau thì cũng không có gì là bất hợp lý. Ý nghĩ ấy cứ day trở nhiều năm khiến bà Lan Hinh quyết tâm giành phần đời còn lại cho công việc này...

Hà Nội, tháng 9/2011

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.