Ăn như xáng múc...

Về chuyện ăn (hiểu theo nghĩa bóng), hiện nay có câu nói quen thuộc, phổ biến: “Ăn giày, ăn tất, ăn cả đất xung quanh”. Một khi nói đến tất/ ăn tất, tất nhiên ta nghĩ đến hành động ăn tất cả, ăn tất tần tật, không bỏ sót mảy may, ăn không chừa thứ gì, thượng vàng hạ cám đều xơi tất.

Đặc biệt ở miền Nam còn có cách nói ấn tượng: Ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi. Hai từ xúc và trôi “đối chọi” nhau đã cho thấy sự tréo ngoe giữa ăn và làm. Ăn thì liên tục, cấp tập, liên hồi, không ngừng nghỉ; còn làm lại chậm chạp, “lửng lơ con cá vàng”, được chăng hay chớ.

Vậy, xáng là gì?

“Máy trang bị cần cẩu gắn cái gàu to để cạp xúc lượng bùn đất lớn, nạo vét kinh rạch sông ngòi” (Bùi Thanh Kiên - “Phương ngữ Nam bộ”). Với giải thích này, ta hiểu “Xáng: phương tiện di chuyển dưới nước, dùng để đào kênh, vét bùn” (Huỳnh Công Tín - “Từ điển từ ngữ Nam Bộ”); tuy nhiên, tại sao gọi là xáng, ai có thể trả lời chắc cú? Do tò mò, tôi đã tra nhiều sách vở nhưng rồi vẫn không thể tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Chỉ dám quả quyết, xáng chỉ mới xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XIX tại vùng đất phương Nam.

Theo nhà văn Sơn Nam, “Sau khi đánh chiếm ba tỉnh miền Đông, từ năm 1860, người Pháp đã dùng 2 chiếc xáng máy vét lại lòng rạch Bến Lức và sông Bảo Định (Mỹ Tho)”. Sự xuất hiện của xáng trong thời điểm đó: “Rõ ràng là những con quái vật kinh khiếp khổng lồ, vô địch ngày đêm gào thét, cách 4, 5 ngàn thước vẫn còn nghe lồng lộng. Vì quan niệm xáng là một sinh vật nên nhiều người nói là “xáng la” vì nó la hét” (“Tìm hiểu đất Hậu Giang”, tạp chí Văn hóa Á châu số 1-1959 - tr.87).

Thiết nghĩ rằng, một khi tìm về tiếng Việt thì không chỉ hiểu ngữ nghĩa mà cũng là dịp tiếp cận nét văn hóa đã lãng quên theo năm tháng. Nhân nói về xáng, trong “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” (NXB Trẻ tái bản - 1997), Sơn Nam còn cho biết năm 1901, đào kinh xáng Xà No “nối Hậu Giang qua Vịnh Xiêm La” là xáng chạy bằng hơi nước, với những giàn gàu bằng sắt: “Máy của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi gàu sắt múc được 375 lít, thổi bùm xa đến 60 mét. Giàn gàu của xáng chạy theo vòng tròn (như xa đạp nước). Từ xa, chiếc xáng trông như chiếc chiến hạm, máy chạy vang rền suốt năm ba cây số ngàn, mang theo một số chuyên viên, nhơn công hàng trăm người. Dọc theo hai bên bờ phải chở củi đem tới sẵn, vì xáng dốt nồi sốt-de bằng củi” (tr. 370). Từ đó trở về sau, ta quen gọi kinh xáng là con kinh do xáng đào, chứ không phải đào bằng tay như trước kia. Từ xáng, còn có các từ phái sinh như xáng cạp, xáng múc/ xáng thổi, xáng xúc…

Kinh xáng mới đào, tàu Tây mới chạy

Thương em thương đại, đừng ngại gần xa.

Như một lẽ tự nhiên, xáng đã đi vào câu hát dân gian, và không gì ngạc nhiên khi nó tượng trưng cho sự trường cửu, vững chắc:

Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành

Tàu Tây liệt máy, em mới đành bỏ anh.

Đã thay thế cho cách ví von trước đó, chẳng hạn:

Chừng nào đá nổi vông chìm

Muối chua, chanh mặn, mới tìm được em.

Điều này cho thấy, xáng rất quen thuộc với người miền Nam, thậm chí, nhà văn Sơn Nam còn cho rằng xáng đã tạo ra: “Văn minh kinh xáng”, chứng tỏ trong thời đại mà đường bộ, đường hàng không phát triển mạnh, các con đường thủy vẫn đóng vai trò quan trọng” (“Tìm hiểu đất Hậu Giang”, tạp chí Văn hóa Á châu số 1.1959 - tr.87). Thế nhưng, do đâu lại có từ xáng, liệu có phải là từ vây mượn? “Việt Nam tự điển” (1970) của Lê Văn Đức cho biết xáng là từ tiếng Pháp “chaland” mà ra, ta quen đọc xà lan, nói theo “Việt Nam tân từ điển” (1965) của Thanh Nghị là “Tàu lớn không mui để chở đồ, đưa người qua sông…”. “Từ điển Việt-Hoa-Pháp” của Eugène Gouin (1957) lại giải thích: “Xáng: canot (xuồng)”. Xét ra, chaland và canot không phản ánh được tính cách của xáng như ta đã biết.

Trong khi đó, nhà ngôn ngữ Lê Ngọc Trụ lại cho rằng xáng là từ nôm: “Máy vét bùn, sông đào: hãng xáng, kinh xáng”, không liên quan gì đến sự vây mượn. Nếu thế, tôi lại phân vân vì sao quyển từ điển tiêu biểu nhất cho lời ăn tiếng nói của Nam Bộ như “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) lại bỏ sót? Và tự điển do người Bắc soạn như “Việt Nam tự điển” (1931) của Hội Khai trí tiến đức, chỉ có “xán” hiểu theo nghĩa “ném, quăng” cũng na ná cách giải thích của “Đại Nam quấc âm tự vị”: “Đập xuống, đánh bể”, chứ cả hai đều không có từ mục “xáng”. Nhân đây xin nói luôn với nghĩa trên, hiện nay, nhiều từ điển chấp nhận cả hai cách ghi xán/ xáng.

Rõ ràng, để hiểu ngọn ngành mỗi từ “xáng” cũng không dễ dàng.

Ta hãy trở lại với ăn như hạm/ ăn như cọp. Ừ, với con cọp, mọi thứ đều ăn tuốt/ ăn tuốt luốt/ ăn tuốt tuồn tuột - thế nhưng trong ngữ cảnh “Ăn giày, ăn tất” thì tất ở đây chính là vớ, tất thường được sử dụng khi mang giày, mang cho ấm chân. Thông thường đã đi giày thì phải mang thêm tất. Trong một bài phú, nhà thơ Tú Xương cho biết: “Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng”. Vậy, xin hỏi luôn tất/ bít tất có phải từ vây mượn?

Theo “Việt ngữ chính tả tự vị” của Lê Ngọc Trụ: “Bít (tất) là bí tất đọc trại - chánh chữ là tế tất, (chữ tế, giọng Trung Hoa đọc là pí) là đồ che đầu gối khi quỳ lạy; đồ mang dưới chưn; đôi vớ”. Trong khi đó, “Việt Nam tân từ điển” (1965) của Thanh Nghị lại cho rằng, bít tất vây mượn từ tiếng Pháp: “(bas, chaussette), vớ, tất”. Cách giải thích của Lê Ngọc Trụ hợp lý hơn chăng? Mà tất cũng là ắt, hẳn, phải vậy rồi, tất nhiên - tỷ như ta thường nghe các câu như Có làm tất có ăn; đánh tất thắng….

Đứng đây quyết đợi một thì

Đợi chàng tất phải có khi gặp chàng.

Ta hiểu “tất phải” thì thể nào cũng phải xảy ra trong trường hợp cụ thể nào đó, na ná như tất nhiên. À, đã đọc đến đây rồi thì… tất nhiên cái gì nhỉ? Thí dụ, đã là người Sài Gòn, tất nhiên ai lại không nhớ đến có câu cửa miệng được giới trẻ trước năm 1975 đặt vần vè, dễ nhớ: “Ăn bò bía, uống nước mía, mặc đồ vía, dạo Bạch Đằng”. Ấy là cái thú của giới trẻ khi bát phố/ dạo phố trong những ngày đẹp trời. Đồ vía là bộ quần áo đẹp nhất, kẻng nhất mà mình sắm được. Còn bò bía là gì?

Dễ ợt. Dễ ẹt.

Từ điển mở Wikipedia giải thích: “Bò pía, (còn gọi là pía hay bánh pía), (tiếng Phúc Kiến: poh-piá) là món cuốn theo phong cách ẩm thực Triều Châu (Quảng Đông) và Phúc Kiến, Trung Quốc, hiện phổ biến ở Đài Loan, Singapore và Malaysia”. Liệu chừng bò bía có ai gọi là bánh pía không? Không hề. Vì rằng, bánh pía lại là loại bánh khác với bò bía, theo “Phương ngữ Nam Bộ” (NXB Hội Nhà văn -2015) của Bùi Thanh Kiên: “Bánh pía: (pía< Hán Việt: bính - đọc giọng Triều Châu), loại bánh nướng tròn hơi dẹt nhân ngọt hoặc nhân đậu xanh. Bánh pía thì đâu cũng có làm nhưng bánh pía Sóc Trăng thì ngon nhất” (tr.121). Thế thì, bò bía là bò bía, bánh pía là bánh pía chứ không thể “còn gọi” như thông tin trên.

Lại nữa, về bò bía cũng còn có cách giải thích khác. Cụ thể, “Tầm nguyên từ điển Việt Nam” (NXB TP.HCM - 1993) của Lê Ngọc Trụ cho biết: “Bò bía (pọt pi-éng, Triều Châu), bạc bính (Hán Việt). Món ăn gồm bánh mỏng tráng bằng bột mì trông như bánh tráng (bánh đa), gói củ sắn xắt sợi xào, có tôm khô, lạp xưởng, đậu phộng, trứng chiên, phết tương lên rồi cuốn thành hình như gỏi cuốn” (tr.480). Rõ ràng, bò bía là từ vây mượn. Với tên gọi loại bánh kèm theo từ bò, trước đó, người Việt chỉ có:

Hai tay bưng quả bánh bò

Giấu cha giấu mẹ cho trò đi thi.

Hoặc:

Vái ông Tơ một dĩa bánh bò bông

Cùng bà Nguyệt lão gắng công se giùm.

Về bánh bò, cách giải thích tên gọi của nó cũng không giống nhau, chẳng hạn, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) của Huình Tịnh Paulus Của cho rằng: “Thứ bánh đổ giống cái vú con bò”; và khi dùng cái chén để đong bột để đổ bánh bò được gọi chén bánh bò. Do hình thù cái bánh giống vú con bò nên “chết tên” bánh bò? “Việt Nam tự điển” (1931) lại cho rằng: “Bánh bò: Tên một thứ bánh đổ vào chén, khi hấp thì bột nó bò lên miệng chén nên gọi là bánh bò”. Gần đây nhất, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) có cách lý giải như sau: “Bánh bò: Bánh hấp có hình như ba cái tai bò, mềm và xốp, làm bằng bột gạo tẻ, đường và men”. Xét ra cách giải thích của ông Huình Tịnh Paulus Của hợp lý hơn cả, đơn giản trước đây người ta còn gọi bánh vú bò mà ông cho rằng sở dĩ gọi thế do người ta gọi tên theo hình thù của cái bánh, thí dụ bánh ếch “bánh giống hình con ếch, cũng kêu là bánh ít”.

Ghe không tay sao kêu ghe vạch?

Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?

Thì bò trong bánh bò ở đây là một cách chơi chữ độc đáo. Bò này không phải chỉ loài động vật nhai lại, có sừng, hình thù giống con trâu nhưng bé hơn, không dai sức bằng trâu nên mới có câu Yếu trâu khỏe bò, và màu da thì Vàng có mà bò, to có mà voi như ông bà ta đúc kết. Ở câu trên do có từ cẳng/ chân nên ta biết bò là nhằm chỉ động tác di chuyển bằng hai tay và hai đầu gối hoặc áp gần sát đất, cử động toàn thân để tiến tới hay thoái lui một cách chậm chạp. Có nhiều cách bò như bò toài, bò như cua, bò như rùa, bò lê bò càng, bò lê bò la, bò la bò lết, bò lăn bò lóc, bò càng bò niểng…

 Khi trồng loại dây leo, nhánh cây non ngày một vươn lên cao,  người ta cũng gọi là bò, tỷ như mướp bò lên giàn… Nếu loại thực vật đó chỉ phát triển bằng cách nằm bò dưới đất gọi “bò lan”, nhưng gọi “bò sát” lại dành để chỉ động vật có xương sống, không chân hoặc chân ngắn, di chuyển bằng cách bò sát mặt đất như rắn, thằn lằn, tắc kè, cá sấu, rùa… Không hiểu sao, người Việt thường hay nói Ngu như bò/ Ngu như trâu. Nếu ngu thì sao khi đang cày, người điều khiển cày chỉ cần hô “tắc” nó liền sang phải; hô “rì” là nó qua trái; muốn nó dừng lại thì hô “hò/ họ”? Chứng tỏ nó đâu có ngu. Vì thế khi nghe câu:

Con bò có một cái u

Làm trai hai vợ thì… ngu như bò

Liệu có là ngu? Không dám bình luận gì thêm.

Trở lại với câu Ăn giày, ăn tất, ăn cả đất ta còn thấy gì? Một khi đã “ăn giày” rồi “ăn tất”, đúng là ăn sạch sành sanh. Vẫn chưa đủ, còn “ăn cả đất” nữa, thiệt quá quắt. Đừng quên trong tiếng Việt, từ “ăn đất”, than ôi, nó lại đồng nghĩa với bị đất kêu, ăn bùn, ăn bom, ăn đạn, ăn muối, ăn xôi nghe kèn… tức là ngủm củ tỏi, đi vào lòng đất mẹ, lúc ấy chỉ ba tấc đất là cùng! Vậy, sao cái lúc đang sống sờ sờ ra đó, nhiều người cực kỳ khoái “ăn đất” (nghĩa đen) để rồi “ăn đất” (nghĩa bóng) không kịp ngáp? 

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?