Ám ảnh lò thiêu

Lịch sử nhân loại, xét trên một phương diện nhất định, là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Vào thời kỳ sơ khai, khi mà các nhóm cộng đồng người nhỏ lẻ tồn tại trên bề mặt quả địa cầu đang vận động tiến tới sự hình thành các liên minh bộ lạc, các quốc gia dân tộc, các hình thức nhà nước và các đế chế, thì chiến tranh - mặc cho sức mạnh gieo rắc chết chóc của nó - là một nhân tố mang ý nghĩa tích cực.

Bằng việc một hoặc nhiều cộng đồng người này tiến hành chiến tranh với một hoặc nhiều cộng đồng người khác mà những vùng đất manh mún đã dần hợp lại thành những lãnh thổ rộng lớn, quá trình hợp huyết giữa các chủng tộc diễn ra, và những nền văn hóa khác biệt có cơ hội xích lại gần nhau, tiếp biến lẫn nhau, tạo nên những mô hình văn hóa mới ở những trình độ mới.

(Nhìn nhận chiến tranh từ góc độ này, ta mới hiểu tại sao trong thiên anh hùng ca Ilyade của người Hy Lạp cổ đại không có chuyện phân biệt chính nghĩa/ phi nghĩa giữa các bên tham chiến, tại sao những chiến sỹ của cả Hy Lạp và Troy đều được ca ngợi như những anh hùng ngời ngời phẩm chất. Đọc Ilyade, ta sẽ không thấy khiếp sợ vì cảnh chết chóc, mà chỉ thấy vẻ đẹp bạo liệt của chiến trận!).

Tuy nhiên, cái thời thơ ấu đầy lãng mạn ấy của nhân loại cũng dần trôi qua, đến một lúc, chiến tranh đã phải mang diện mạo thật của nó, một thứ diện mạo mà những con người có lương tri không ai còn muốn ngắm nhìn nữa.

Đại chiến thế giới lần thứ II là một cuộc chiến tranh như vậy. Trong số những hậu quả nhiều mặt và kéo dài mà cuộc chiến này để lại - một di sản nặng nề, có thể nói vậy - điều gây nỗi ám ảnh khủng khiếp nhất chính là holocaust (lò thiêu).

Ám ảnh lò thiêu ảnh 1
Minh họa của Lê Phương.

Con người, nhất là những người châu Âu, đã, đang và sẽ còn nhớ mãi, nói mãi về thảm cảnh holocaust, cho dẫu hơn 6 thập niên đã trôi qua. "Holocaust không hề là chuyện của quá khứ".

Câu khẳng định ấy được chứng minh bằng cả một danh sách đồ sộ những tác phẩm điện ảnh và văn chương xuất sắc về holocaust trong suốt hơn sáu mươi năm qua. Trong bài viết này, với sự hiểu biết có hạn của mình, tôi chỉ xin được nói tới vài cuốn tiểu thuyết châu Âu đã được dịch ra tiếng Việt thời gian gần đây.

Trước hết là tác phẩm của tiểu thuyết gia người Hungary, Kertesz Imre: Không số phận (1975) (Giáp Văn Chung dịch, Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Lao Động ấn hành, 2010). Ủy ban Nobel năm 2002 cắt nghĩa về việc họ trao cho Kertesz Imre giải thưởng văn chương danh giá này: "Vì một sự nghiệp văn học nói lên trải nghiệm mong manh của cá nhân đối nghịch với sự độc đoán tàn bạo của lịch sử".

Một đánh giá chính xác, và là một đánh giá chắc hẳn có tham khảo tiểu sử của nhà văn. Chúng ta biết rằng Kertesz Imre sinh năm 1929, tại Budapest, trong một gia đình gốc Do Thái. Năm 15 tuổi, ông bị rơi vào trại tập trung của Hitler, trải qua cả hai địa ngục khét tiếng là Auschwitz và Buchenwald.

Khác với hàng triệu nạn nhân của holocaust, ông đã may mắn sống sót. Và đó cũng là cái may mắn của văn chương châu Âu thế kỷ XX khi có một tác giả, một tác giả tài năng, viết về holocaust với tư cách người "sống để kể lại" (cho dẫu đã có ai đó, Tveztan Todorov thì phải, từng nói rằng không thể tưởng tượng nổi nếu sau Auschwitz, chúng ta lại viết về Auschwitz).

Theo nghĩa đó, tiểu thuyết Không số phận gần như là một tự truyện của Kertesz Imre về quãng thời gian ông sống trong trại tập trung Quốc xã: nhân vật chính của tiểu thuyết cũng là một thiếu niên bị đày ải hết từ trại tập trung này sang trại tập trung khác, cho đến khi cậu được quân Đồng minh giải phóng.

Tuy nhiên, điều đặc biệt kỳ lạ của thiên tiểu thuyết - tự truyện này là ở chỗ: được viết ở độ tuổi trung niên, khi tác giả đã nếm trải quá đủ đau khổ, và do đó, hẳn đã hiểu quá rõ bản chất của chủ nghĩa Quốc xã cũng như cái sản phẩm holocaust kinh hoàng của nó, nhưng ông lại viết về lò thiêu với tâm thế của người lần đầu tiên được nhìn thấy một cái gì đó mới mẻ.

Cậu thiếu niên Koves Gyorgy trong Không số phận bình thản quan sát và ghi nhận mọi biến cố xảy ra trong trại tập trung, với bản thân mình và với những người khác. Đôi lúc cậu thấy lạ lẫm, nhưng hoàn toàn không khiếp sợ, cũng chẳng mảy may bất bình hay phẫn nộ.

"Có thể nói rằng ngoài sự kính nể nhất định, và tất nhiên ngoài cái mùi mà thực sự chúng tôi đã ngập ngụa ở trong như một thứ bùn nhão trong đầm lầy ra, tôi không cảm thấy điều gì khác. Nếu không nói là ở phía xa, chúng tôi liên tục bị bất ngờ khi nhìn thấy thêm một cái, rồi thêm một cái nữa và ở phía chân trời sáng rực lại thêm một cái ống khói như thế nữa, trong số đó hai cái đang nhả lên bầu trời thứ khói giống hệt như cái ở gần chúng tôi, và có lẽ những người nghi ngờ rằng còn có một đám khói nữa đang cuộn lên từ phía sau một khu bãi có nhiều bờ bụi thấp kia có lý, và theo tôi, họ có quyền nghĩ: chẳng lẽ dịch bệnh lại lớn tới mức có nhiều người chết đến thế?".

Đây là đoạn văn miêu tả những cái lò thiêu xác qua cái nhìn của Koves Gyorgy, rất đặc trưng trong Không số phận. Đặc trưng ở sự bình thản trong phản ứng tâm lý của nhân vật, cả ở sự bình thản trong giọng điệu tự sự. Không nghi ngờ gì, chính sự bình thản theo cách trung tính hóa như vậy là yếu tố khiến cho cuốn sách trở nên đáng tin ở mức độ gây sốc.

Người đọc nói chung, với những hiểu biết vốn có của mình về holocaust, hẳn là vẫn không thể tránh khỏi sự rùng mình khi đối diện với bức tranh về một cỗ máy tàn sát tập thể lạnh lùng, từ tốn, chắc chắn, và không cách gì cưỡng lại.

Nếu ở Không số phận, Kertesz Imre viết về holocaust bằng cái nhìn của người trong cuộc, thì ở tiểu thuyết Người đọc (Lê Quang dịch, NXB Phụ Nữ, 2006), nhà văn người Đức Bernhard Schlink lại viết về holocaust theo cách hoàn toàn khác.

Bernhard Schlink sinh năm 1944 (năm Kertesz Imre bị bắt vào trại tập trung) tại Bielefeld. Dĩ nhiên là ông chưa hề có trải nghiệm thực tế với holocaust. Và bởi thế, cái viết của ông về holocaust, không thể khác được, là cái viết xuất phát từ hiểu biết gián tiếp.

Theo nghĩa nào đó, cũng có thể nói rằng bằng cái viết ấy, Bernhard Schlink đã tự mình làm một cuộc lội ngược dòng quá khứ, nhận thức lại một trong những vết nhơ khó tẩy rửa nhất trong lịch sử của nước Đức hiện đại. Tuy vậy, điểm độc đáo của cuốn tiểu thuyết lại là ở chỗ: holocaust chủ yếu được gọi tên như một sự kiện đã xảy ra, chứ rất ít khi được miêu tả, dù chỉ là miêu tả từ điểm nhìn hồi cố.

Đọc Người đọc, độc giả được tác giả miễn cho cái trách nhiệm phải cảm thấy phẫn uất hay đau đớn trước thảm cảnh. Anh ta không cần biết (và cũng không được biết) những cảnh tượng nào đã thực sự xảy ra ở trại tập trung, nơi Hanna Schmitz - nhân vật chính của tiểu thuyết - làm quản tù.

Bù lại, anh ta bị tác giả đặt trước mặt một câu hỏi: con người vô tội hay có tội khi, một cách ngẫu nhiên, không tự giác, anh ta trở thành một bộ phận trong guồng máy sản xuất tội ác? Câu hỏi này bật ra từ chính cuộc đời của nhân vật Hanna Schmitz, từ chính cái cách cô gia nhập thế giới holocaust: đang là nhân viên soát vé trên tàu điện, Hanna Schmitz được xét dự thi nâng cấp lên làm lái tàu, nhưng vì mù chữ và sợ bị phát hiện là người mù chữ nếu dự thi, cô đã bỏ việc, rồi trở thành quản tù trong trại tập trung của Quốc xã. Sau khi chiến tranh kết thúc, cũng vì sợ bị phát hiện là người mù chữ, cô đã chấp nhận bị tòa kết tội là kẻ gây ra cái chết của hàng chục nữ tù Do Thái trong một lần chuyển trại.

Có vẻ như Hanna Schmitz là người vô tội, hoặc ít ra, là người tự cảm thấy mình có thể yên tâm về mặt đạo đức. Nhưng không. Những ngày tháng ở tù sau đó của Hanna Schmitz là những ngày tháng cô miệt mài học chữ - với sự giúp đỡ của Michael Berg, người tình trẻ tuổi của cô từ hồi trước chiến tranh - rồi miệt mài tìm đọc những tài liệu nghiên cứu về chiến tranh thế giới thứ II, về chủ nghĩa Quốc xã, về sự diệt chủng người Do Thái của Hitler, v.v. Vào đêm trước ngày Hanna được trả lại tự do, cô đã tự tử.

Điều gì xảy ra ở đây vậy? Hanna tìm đến cái chết vì cô dự cảm không thể sống được với thế giới bên ngoài khi đã là một bà già, không nghề nghiệp, không người thân thích chăng? Hay là vì, bằng quá trình đọc - hiểu, cô đã gạt bỏ được sự mù mờ tăm tối bấy lâu và biết rằng, dẫu thế nào chăng nữa, mình không vô can trong sự kiện holocaust, và bắt buộc phải trả giá vì điều đó? Không ai có thể trả lời thay cho người đã chết, ngay cả tác giả - người sản sinh nhân vật - cũng vậy.

Nhưng rõ ràng là Bernhard Schlink bị lò thiêu ám ảnh, và với nhân vật Hanna, có lẽ ông đang cố thanh toán quá khứ nặng nề của người Đức, bằng cách đối mặt với sự thật. Holocaust là sự thật. Và holocaust là một tội ác không thể biện minh được bằng bất cứ lý do nào.

Để có một hình ảnh trực diện, trần trụi và mang tính toàn cảnh (panorama) về holocaust, phải chờ tới bộ tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell, tác phẩm đoạt giải Goncourt và giải tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp năm 2006 (Cao Việt Dũng dịch, Công ty Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn ấn hành, 2008).

Jonathan Littell sinh năm 1967, là nhà văn người Mỹ gốc Do Thái Đông Âu. Ông viết Những kẻ thiện tâm bằng tiếng Pháp, với một phong cách tiểu thuyết đặc Pháp, và điều này hẳn đã khiến cho tác phẩm hứng chịu không ít điều tiếng chê bai từ dư luận của người đọc Anh - Mỹ.

Dẫu sao mặc lòng, vẫn phải thừa nhận Những kẻ thiện tâm là nỗ lực phi thường của một nhà văn thuộc thế hệ sinh sau Đại thế chiến II trong việc tái hiện, ở quy mô sử thi, cuộc chiến tranh lớn nhất lịch sử nhân loại. Hàng núi hồ sơ, tài liệu gốc và tài liệu nghiên cứu về Đại chiến thế giới thứ II đã được tác giả nghiền ngẫm, tổng hợp, chắt lọc để viết nên Những kẻ thiện tâm.

Theo chân Maximilien Aue - người kể chuyện xưng Tôi, sĩ quan SD trong lực lượng Đức Quốc xã - người đọc được di chuyển qua khắp các chiến trường thuộc mặt trận phía đông, được nhìn cận cảnh cảnh tượng kinh hoàng khi các đội hành quyết của quân Đức tàn sát người Do Thái trong những cánh rừng Ukraina ngập tuyết.

Khi Maximilien Aue bị thương rồi trở về Đức, người đọc lại được theo chân hắn - lúc này có nhiệm vụ theo dõi, lập kế hoạch sử dụng lao động trong các trại tập trung - thị sát những địa ngục trần gian mà chính quyền Hitler đẻ ra. Aue nhìn thấy dung mạo của đám tù nhân đang bị vắt kiệt sức lực để phục vụ việc sản xuất khí tài chiến tranh: "Phần lớn gày gò khủng khiếp, đầu họ được đặt trên những cái cổ trơ xương trong một tư thế thăng bằng tạm bợ, giống với những cục tròn xấu xí vẽ thêm cái mũi khổng lồ và tai được cắt bằng bìa cáctông, và trên đó người ta đã ấn thêm vào hai cái mắt to tướng, trống rỗng và từ chối nhìn vào chúng tôi. Gần họ, những thứ mùi mà tôi đã ngửi thấy khi đi vào trở thành một mùi hôi thối kinh người tỏa ra từ quần áo bẩn thỉu, từ những vết thương, từ chính cơ thể của họ".

Rồi cảnh những đoàn người đang chờ để được đưa vào phòng hơi ngạt, cảnh những cuộc chuyển tù giữa tuyết giá mà quãng đường được đánh dấu bằng những thây người... Tất cả những cảnh tượng khủng khiếp đó khiến Aue thấy bất bình.

Bất bình không như một phản ứng của lương tri lành mạnh trước nỗi thống khổ của con người, mà là bất bình vì sự yếu kém trong cách chính quyền Quốc xã sử dụng nguồn nhân lực lao động cưỡng bức! Có thể nói, từ góc nhìn của một con người đầy tinh thần công chính, một kẻ "thiện tâm" như Maximilien Aue, cái ấn tượng holocaust càng trở nên khiếp đảm trong sự tiếp nhận của người đọc hôm nay.

Có những khu vực đề tài không bao giờ là cũ, không bao giờ bị mòn trong văn chương. Bởi lẽ, chúng là những sự kiện mang dư chấn cực lớn trong đời sống xã hội, bất kỳ thế hệ nhà văn nào sau đó vẫn có thể nhận được từ chúng những lớp sóng xung động có ý nghĩa.

Holocaust thuộc kiểu đề tài như vậy. Không thường xuyên, nhưng mỗi khi có tác giả nào đó viết về holocaust, người đọc đều có quyền hy vọng đó sẽ là một tác phẩm xuất sắc. Chuyện của văn chương châu Âu liệu có lặp lại ở văn chương Việt Nam hay không? Thú thực, người viết không có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi này

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?