254 số phận bi thảm trên tàu St Louis

Ngày 16-4-1939, chiếc tàu buôn St Louis rời cảng Hamburg, Đức, với 937 hành khách, phần lớn là công dân Đức gốc Do Thái, bỏ chạy khỏi nước Đức nhằm tránh sự thanh trừng của chủ nghĩa Quốc xã. Tuy nhiên, cả Mỹ lẫn Canada và Cuba đều từ chối tiếp nhận những người này.

Mãi gần cuối tháng 6, những người tị nạn mới được Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan đồng ý cho định cư. Đến năm 1940, khi Hitler chiếm nước Pháp, Hà Lan, Bỉ, 649 người Do Thái đi theo tàu St Louis bị đưa vào trại tập trung, 254 đã bị giết trong các phòng hơi ngạt…

Chuyến đi định mệnh

Rời cảng Hamburg, Đức, ngày 16-4-1939 với 937 hành khách, phần lớn là người Đức gốc Do Thái, sau gần nửa tháng lênh đênh trên biển, ngày 13-5 tàu St Louis đến cảng La Havana, Cuba.

Jacob Yosuf, một nhà buôn Do Thái đi trên chiếc tàu này nói: “Thời điểm chúng tôi khởi hành, nhà nước Đức Quốc xã chưa lùa dân Do Thái vào trại tập trung mà họ chỉ bắt chúng tôi khâu lên ống tay áo hình ngôi sao David 6 cánh. Các cửa hàng, tiệm buôn, nhà riêng của chúng tôi cũng bị buộc phải sơn dấu hiệu này”.

Rời khỏi nước Đức, 937 hành khách mang theo niềm hy vọng về miền đất hứa.
Rời khỏi nước Đức, 937 hành khách mang theo niềm hy vọng về miền đất hứa.

Abraham Dayan, một người Do Thái khác nói tiếp: “Tôi biết trước sau gì chúng tôi cũng bị ngược đãi vì ngày nào cũng vậy, từng nhóm áo nâu thuộc Đoàn Thanh niên Hitler diễu hành ngang qua nhà chúng tôi, vừa đi vừa hò hét những khẩu hiệu bài Do Thái. Vì vậy, khôn ngoan nhất là nên đi trước khi sự tồi tệ xảy ra”.

Lothar Molton, 15 tuổi, đi cùng cha mẹ cho biết mặc dù thuyền trưởng Gustav Schroder là người Đức nhưng khi tàu vừa ra khỏi hải phận nước Đức, ông đã lấy một tấm khăn trải bàn phủ lên bức tượng bán thân Hitler: “Thực phẩm dư thừa nên chúng tôi sống rất thoải mái. Cứ mỗi tối thứ 6 lại có chương trình ca vũ nhạc. Mọi nghi lễ tôn giáo đều được tự do cử hành nên tôi có cảm tưởng đây chỉ là một chuyến du lịch”.

Thế nhưng, khi tàu St Louis thả neo ở cảng La Havana thì theo lệnh của Tổng thống Cuba Federico Laredo Bru, hải quan Cuba từ chối không cho hành khách lên bờ mặc dù trong số 937 người, có 60 người không phải dân Do Thái, và họ đi bằng thị thực du lịch. Bên cạnh đó, một chiến dịch rầm rộ xuất hiện trên các phương tiện truyền thông ở Cuba, yêu cầu chính phủ không nhận thêm người Do Thái vì trước ngày tàu St Louis cập cảng La Havana, Cuba đã nhận khoảng 6.000 người tị nạn, trong đó có 2.500 người Do Thái.

Nhiều tờ báo xuất bản ở Cuba hồi ấy đã không ngớt nêu lên sự nguy hiểm của vấn đề nhập cư là “giành hết công ăn việc làm của người bản xứ”.

Một nhân viên hải quan Cuba giải thích: “Ngày 5-5-1939 (4 tháng trước khi Thế chiến II nổ ra), Havana đã hủy bỏ chính sách nhập cư cũ mà thay vào đó là một nghị định, hạn chế nhập cảnh đối với người nước ngoài. Tất cả mọi giấy phép và visa cấp trước ngày 5-5 đều vô giá trị”.

Nhà buôn Jacob Yosuf than thở: “Ít ra họ cũng cho chúng tôi vào để chúng tôi có thể làm thủ tục xin nhập cảnh các quốc gia khác. Đằng này họ lại cấm cửa, đẩy chúng tôi vào tình trạng đi cũng dở, ở lại thì không được”.

Sau 5 ngày nằm tại cảng La Havana, chỉ có 28 hành khách được phép quá cảnh Cuba vì họ có visa nhập cảnh Mỹ nhưng mỗi người vẫn phải hối lộ 150USD cho Manuel Benitez Gonzalez, Tổng giám đốc Văn phòng Di trú Cuba. Để phản đối, một số người Do Thái tự gây thương tích để được đưa vào bệnh viện với hy vọng sau khi điều trị, họ sẽ được cho ở lại.

Yafo Naser, một người Do Thái nói: “Mặc dù chúng tôi đã thành lập một nhóm đại diện, trình bày với Văn phòng Di trú Cuba về những nguy hiểm chắc chắn sẽ gặp phải nếu chúng tôi bị buộc quay về Đức nhưng họ vẫn làm ngơ”. Max Loewe, một người Do Thái khác cho biết ông tự cắt đứt tĩnh mạch cổ tay nhưng sau 3 ngày điều trị ở bệnh viện, cảnh sát Cuba áp giải ông trở lại tàu.

Ngày 21-5, tàu St Louis nhổ neo rời cảng La Havana với 908 hành khách còn lại (1 người chết vì bệnh) rồi hướng về bang Florida, Mỹ. Để những người tị nạn Do Thái có thể vào được nước Mỹ, thuyền trưởng Gustav Schroder đã cố ý cho tàu mắc cạn bằng cách đâm vào một doi cát khi còn cách bờ biển Florida 12 hải lý.

Thế nhưng ngay lập tức, các tàu tuần duyên Mỹ đã kéo chiếc St Louis ra khỏi doi cát rồi áp tải nó đến hải phận quốc tế. Giải thích về điều này, tạp chí Fortune cho biết cuộc đại khủng hoảng xảy ra năm 1938 đã khiến hàng chục triệu người Mỹ thất nghiệp.

Một cuộc thăm dò dư luận diễn ra vào thời điểm ấy cho thấy 83% dân Mỹ phản đối những nới lỏng trong chính sách nhập cư nên Tổng thống Roosevelt dù muốn cũng đành chịu, nhất là ông đang dự định tái tranh cử lần thứ 3.

Hanah, một thiếu nữ Do Thái 21 tuổi trên tàu St Louis nói: “Ban đêm, chúng tôi nhìn thấy ánh đèn lấp lánh của thành phố Miami. Những ánh đèn ấy là biểu tượng của tự do nhưng nó đã nhanh chóng bị dập tắt”. Thuyền trưởng Gustav Schroder cay đắng: “Mỹ là quốc gia tự do nhất thế giới và nước Mỹ hình thành bởi nhiều chủng tộc nhưng giờ đây, lòng khoan dung của người Mỹ đâu rồi?”.

Bị nước Mỹ từ chối, thuyền trưởng Gustav Schroder cho chiếc St Louis hướng lên Canada đồng thời gửi điện cầu cứu nhiều nơi. Nhận được điện, một nhóm các học giả và giáo sĩ Do Thái ở Canada đã cố gắng thuyết phục William Lyon, Giám đốc khu hàng hải Mackenzie King, cho phép tàu St Louis cập cảng Halifax để lấy thêm lương thực, nước uống và nhiên liệu.

Thuyền trưởng Gustav Schroder cho biết trong 2 ngày ở Halifax, người Do Thái trên tàu St Louis đã gửi một thỉnh nguyện thư đến thủ tướng Canada, xin được ở lại nhưng do Giám đốc Cơ quan nhập cư Canada là Frederick Blair vốn ghét dân Do Thái nên bản thỉnh nguyện thư bị vứt vào sọt rác (năm 2000, cháu trai của Frederick Blair đã chính thức xin lỗi cộng đồng Do Thái vì hành động vô nhân đạo của chú mình).

Không chốn nương thân

Rời Canada, chiếc St Louis vượt Đại Tây Dương, hướng về nước Anh. Theo kế hoạch, khi gần đến bờ biển Anh quốc, thuyền trưởng Schroder sẽ đánh đắm tàu để Chính phủ Anh phải chấp nhận cho người tị nạn Do Thái định cư. Tuy nhiên, khi vừa vào đến hải phận Anh, tàu tuần duyên Anh quốc đã phát loa, yêu cầu chiếc St Louis phải trở về Đức vì thời điểm này, nước Anh đang ở trên bờ vực chiến tranh với Đức Quốc xã.

Nhân viên cơ quan nhập cư Canada kiểm soát từng hành khách trên tàu St Louis lên bờ.
Nhân viên cơ quan nhập cư Canada kiểm soát từng hành khách trên tàu St Louis lên bờ.

Thuyền trưởng Schroder nói: “Chúng tôi không còn biết đi đâu nữa. Một số người trên tàu bắt đầu có dấu hiệu của bệnh tâm thần. Nhiều người la hét, khóc lóc, thậm chí có người còn nhảy xuống biển khi nhìn thấy các tàu treo cờ Anh, Pháp, đi ngang với hy vọng sẽ được cứu vớt. Theo suy nghĩ của họ, việc cứu vớt đồng nghĩa với việc họ sẽ được cho nhập quốc tịch của tàu…”.

Lúc này, nhiều hội đoàn Do Thái ở Mỹ, Anh, Pháp và một số các quốc gia châu Âu liên tục vận động chính quyền sở tại cho phép tàu St Louis được cập bờ, và tất cả những người trên tàu được hưởng quy chế tị nạn chính trị nhưng câu trả lời vẫn là từ chối. Theo sử gia Williams Orsborn, Đại học York, Anh quốc, lúc ấy không ai tin rằng Hitler sẽ xua quân chiếm Pháp, Bỉ, Áo, Hà Lan nên việc cho người Do Thái tị nạn có thể sẽ làm “mất lòng” nước Đức. Vì vậy họ chọn thái độ trung lập.

Ước vọng tự do càng lúc càng mờ nhạt thì không gian sống trên tàu cũng trở nên chật chội, tù túng. Nhiều người già ở trong cabin cầu nguyện cả ngày còn những người trẻ đổi tính cáu gắt. Đã xảy ra không ít vụ cãi cọ, thậm chí xô xát chỉ vì những lý do không đâu.

David Berion, bác sĩ người Do Thái nói: “Một số người nảy ra giấc mơ điên rồ là đổ bộ lên một hòn đảo hoang vắng nào đó ở Đại Tây Dương rồi làm lại từ đầu. Tuy nhiên giấc mơ ấy nhanh chóng tan vỡ trước thực tế 900 con người sẽ sống bằng gì khi lương thực mang theo cạn kiệt, chưa kể đau ốm, bệnh tật cùng các điều kiện tối thiểu cần thiết cho cuộc sống. Dù vậy, tất cả đều cùng chung ý nghĩ thà chết chứ nhất định không quay về Đức”.

Ngay cả thuyền trưởng Schroder cũng bày tỏ quan điểm của mình qua bức điện gửi Chính phủ Mỹ, Anh, Canada: “Tôi từ chối đưa tàu St Louis trở lại Đức chừng nào mà người tị nạn chưa được đón nhận để có thể bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp hơn và an toàn hơn”.

Đường về cõi chết

Ngày 17-6-1939, sau một thời gian bàn cãi giữa các quốc gia châu Âu, tàu St Louis được phép cập cảng Antwerp, Bỉ. Lại mất thêm nhiều ngày nữa, Thủ tướng Anh quốc là Neville Chamberlain mới đồng ý nhận 288 người. Dưới sự đấu tranh không mệt mỏi của thuyền trưởng Gustav Schroder, nước Bỉ cho phép 649 người còn lại lên bờ thay vì buộc họ phải ở dưới tàu. Cuối cùng, Pháp nhận cho định cư 224 người, Bỉ nhận 244 người còn Hà Lan nhận 181 người.

Đại diện các nước Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan trao đổi về số phận người nhập cư.
Đại diện các nước Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan trao đổi về số phận người nhập cư.

Ngày 6-8-1939, thuyền trưởng Gustav Schroder cùng thủy thủ đoàn về đến cảng Hamburg, Đức. Lúc này, Hitler đang tập trung vào việc xâm lược Ba Lan, mở đầu cho Thế chiến II nên chẳng ai quan tâm đến chuyến đi của tàu St Louis.

Tiếp theo, bắt đầu từ ngày 10-5-1940, quân đội Quốc xã lần lượt chiếm Hà Lan, Bỉ và Pháp. Trong số 649 người trên tàu St Louis được Pháp, Bỉ, Hà Lan nhận cho định cư, chỉ có 87 người rời khỏi 3 quốc gia này để đến Mỹ, Thụy Sĩ, Thụy Điển trước ngày chiến tranh nổ ra.

Số còn lại bị bắt và bị đưa vào trại tập trung. Leon Joel, sau này trở thành ca sĩ kiêm nhạc sĩ kể lại: “1 tháng sau ngày Đức chiếm Paris, Pháp, cơ quan mật vụ Gestapo ra lệnh cho tất cả những người Do Thái phải ra trình diện. Khi biết tôi rời khỏi nước Đức trên tàu St Louis, họ đưa tôi cùng 223 người Do Thái khác, đều là hành khách trên tàu St Louis, lên chuyến xe lửa đầu tiên đến trại tập trung Auschwitz”.

Yad Berman, thợ làm bánh mì ở thành phố Brussel, Bỉ nói: “Thoát khỏi cơn ác mộng phải theo tàu St Louis quay về Đức, tôi sống tại Brussel chưa được 1 năm thì quân đội Quốc xã tràn vào. Cùng với cả trăm người Do Thái khác, chúng tôi bị đưa đến trại tập trung Sobibor”.

Tháng 5-1945, chiến tranh kết thúc. Trong số 562 người Do Thái trên tàu St Louis  định cư ở Pháp, Bỉ, Hà Lan rồi bị đưa vào các trại tập trung, chỉ 308 người còn sống. 254 người chết trong các phòng hơi ngạt. Cũng sau chiến tranh, Cộng hòa Liên bang Đức trao tặng thuyền trưởng Gustav Schroder huân chương vì lòng dũng cảm. Năm 1993, tên ông được nhà nước Israel đặt cho một công trình tại Đài tưởng niệm diệt chủng Do Thái Yad Vashem.

Năm 2011, những nghị sĩ gốc Do Thái trong quốc hội Canada dựng một đài tưởng niệm, gọi là “Bánh xe lương tâm” làm bằng thép không gỉ, tượng trưng cho chính sách quay lưng với 908 người Do Thái của Chính phủ Canada hồi ấy. Về phía nước Mỹ, năm 2012,

Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức một buổi lễ với sự tham dự của Phó Bí thư Bill Burn. Trong buổi lễ này, ông Burn đã chính thức xin lỗi những người Do Thái trên tàu St Louis, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn với nước Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan đã mở cửa đón nhận họ.

Tháng 5-2018, Thủ tướng Canada Justin Trudeau tuyên bố Chính phủ Canada sẽ chính thức xin lỗi về những gì đã xảy ra với tàu St Louis cùng các hành khách sau khi nó rời cảng Halifax vì phía Canada không cho phép định cư. Lời xin lỗi được công bố vào ngày 7-11 cùng năm. Susan Schleger, một trong những người Do Thái trên tàu St Louis còn sống sau hơn 4 năm ở trại tập trung Sobibor, có mặt tại lễ xin lỗi nói: “Bi kịch bị bỏ rơi xin đừng bao giờ lặp lại”.

Vũ Cao (theo History)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.