William Fisher - Nhà tình báo “siêu đẳng”

Xây dựng được một mạng lưới tình báo rộng khắp, thu được hàng trăm tài liệu bí mật của CIA và những nghiên cứu về bom nguyên tử , tàu ngầm, máy bay phản lực của Mỹ - đây chỉ là một phần công trạng của điệp viên William Fisher, mà trong một thời gian dài ông đã ẩn náu dưới cái tên Rudolph Abel.

Vào giữa tháng 10 năm 1957, phiên tòa xét xử Rudolph Abel bắt đầu trong tòa nhà của Tòa án Liên bang Quận Đông New York. Ông bị buộc tội làm gián điệp cho Liên Xô (cũ). Người điệp viên có thể bị tử hình trên ghế điện hoặc tù chung thân. Nhưng ngay trước khi xử, các cơ quan tình báo Mỹ đã bỏ lọt bằng chứng chính.

Khi cảnh sát đột nhập vào khách sạn “Latam”, nơi điệp viên đang có trong tay bức điện mật vừa nhận được từ Liên Xô, điệp viên đã nhanh chóng tuyên bố rằng, anh đang chuẩn bị viết đơn khiếu nại cảnh sát về việc đối xử tệ bạc. Cảnh sát không tìm thấy lý do từ chối và thậm chí còn đưa cho điệp viên một cây bút chì. Anh lấy một con dao, bình tĩnh gọt bút chì trên bức điện mật, và vò nát tờ giấy trước mặt cảnh sát rồi ném nó vào sọt rác.

Điệp viên William Fisher trước ngày được cử sang Mỹ (cuối năm 1940).
Điệp viên William Fisher trước ngày được cử sang Mỹ (cuối năm 1940).

Người Mỹ đã sớm nhận ra rằng người bị giam giữ là một sĩ quan tình báo chuyên nghiệp hàng đầu. Bất chấp áp lực, ông phủ nhận mình thuộc về cơ quan tình báo của Liên Xô. Ông từ chối cung cấp những chứng cứ và bác bỏ ý đồ của các cơ quan tình báo Mỹ về việc tuyển lại chính mình. Điều duy nhất bị cáo nói trong khi thẩm vấn về tên của mình là Rudolph Abel. Nhưng đó là tên giả.

Trên thực tế, người đang ngồi trước cảnh sát Mỹ là William Fisher. Người Mỹ thậm chí không nhận ra một phần mười những gì mà người sĩ quan tình báo Liên Xô thực sự đã làm ngay trước mặt họ.

William Fisher sinh ngày 11 tháng 7 năm 1903 tại thành phố Newcastle trên sông Tyne của vương quốc Anh. Cha mẹ ông - ông Heinrich Fisher, gốc Đức và bà Lyubov Korneeva, gốc Nga - là những nhà cách mạng lão thành. Vào đầu thế kỷ 20, cặp vợ chồng Heinrich Fisher buộc phải rời khỏi nước Anh vì lý do chính trị. Họ được nước Nga đón nhận, nơi có cuộc cách mạng mà họ tham gia chuẩn bị.

Con đường hoạt động tình báo

Tại Moscow, William - người con trai của ông bà Heinrich Fisher khi phục vụ trong Hồng quân đã chuyên cần học tập và trở thành một hiệu thính viên vô tuyến điện loại giỏi. Khi William quyết định tiếp tục phục vụ trong Tổng cục Chính trị Quốc gia hợp nhất (Tổ chức tiền thân của Ủy ban ANQG Liên Xô), thì nghề hiệu thính viên đã trở thành chuyên môn chính của William Fisher.

Vào những năm 1930, William Fisher đã gặp Rudolf Abel, cũng là hiệu thính viên trong cơ quan An ninh Quốc gia. Họ đã trở thành những người bạn rất thân thiết. Trong một thời gian, cả hai sống trong căn hộ của William Fisher ở Moscow. Hai người giống nhau đến mức những người xung quanh khi chào hỏi họ, thường hay gọi nhầm tên giữa hai người.

Con đường của tình báo của William Fisher bắt đầu từ năm 1931. Anh được gửi về nước Anh với câu chuyện bịa đặt như sau: theo lệnh của người cha nghiêm khắc và chống lại ý chí của mình, một công dân nước Anh đang sống ở Liên Xô đã tìm được cơ hội để trở về quê hương.

Đại tá Fisher (bên phải) lúc bị FBI bắt giữ.
Đại tá Fisher (bên phải) lúc bị FBI bắt giữ.

William Fisher và vợ định cư gần như ở trung tâm London. Trong vai một người mới hồi hương, ông đã mở một xưởng vô tuyến điện, còn vợ bắt đầu dạy múa ballet. Dưới vỏ bọc là một người đàn ông của gia đình, William Fisher làm việc cho tình báo Liên Xô, không chỉ ở Anh, mà còn ở các nước châu Âu khác.

Từ năm 1941, William Fischer đã đào tạo các hiệu thính viên vô tuyến điện cho các đội du kích và các nhóm tình báo. Tiến xa hơn là thẩm vấn các sĩ quan Đức bị bắt và thậm chí còn đích thân làm việc ở hậu phương của kẻ thù.

Tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại

 Trong Chiến tranh Vệ quốc, William Fisher được giao phụ trách một đơn vị tình báo vô tuyến điện và đóng vai trò chủ chốt trong chiến dịch tình báo Berezino, một trong những chiến dịch tình báo hay nhất trong lịch sử chiến tranh.

Dưới sự chỉ huy của William Fisher, điệp viên hai mang Serhorn đánh điện báo cáo với cơ quan tình báo Đức Quốc xã rằng, một đơn vị Đức do Trung tá Heinrich Serhorn chỉ huy bị "mắc kẹt" trong khu vực hậu phương của Hồng quân. Mặc dù bị bao vây tứ phía nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu chống lại các đơn vị quân đội Xôviết.

Trên thực tế, đội quân này không còn tồn tại. Trước đó, nó đã bị xóa sổ và hầu hết bị bắt làm tù binh, bản thân Serhorn bị chiêu mộ và cùng tham gia trò chơi điện đài dưới sự chỉ đạo của William Fisher.

Bị mắc mưu, phía Đức liên tục gửi các chuyên gia phá hoại, trang thiết bị và kể cả các điệp viên đến cho “đội quân ma”.

Tổng cộng có 67 chuyến bay tiếp tế, 13 điện đài xách tay và khoảng 10 triệu rouble tiền mặt được gửi cho Serhorn và tất cả đều lọt vào tay đội quân phản gián Liên Xô. Một số máy bay do Đức gửi tới tiếp tế còn được phép hạ cánh để chuyển hàng, sau đó cất cánh quay về để tiếp tục kéo dài trò chơi.

Thậm chí, Hitler còn định gửi viên tùy tùng thân tín, Tướng Otto Scorzeny - chỉ huy nhóm hành động phá hoại đã từng cứu trùm phát xít Mussolini, đến tiếp viện cho “đội quân” của Serhorn. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh, Bộ Tham mưu Đức vẫn tin có "đội quân" trong hậu phương của Hồng quân. Có thể coi đây là một trong những chiến dịch tình báo thành công bậc nhất bằng sóng vô tuyến điện mà tình báo Liên Xô đã thực hiện để lừa được phản gián Đức Quốc xã.

Nhiệm vụ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II

Khi chiến tranh kết thúc, các đồng minh cũ của Liên Xô trong Liên minh chống Hitler như Mỹ và Anh đã trở thành đối thủ của Liên Xô và họ không che giấu kế hoạch của mình có thể tấn công Liên Xô.

Dã tâm đó làm cho Liên Xô phải lo lắng. Một đất nước kiệt sức vì chiến tranh, với nền kinh tế và công nghiệp bị phá hủy, không thể đưa ra phản ứng tương đương trong trường hợp bị tấn công hạt nhân. Và thế là Liên Xô đã chọn con đường răn đe chứ không phải xâm lược. Vì thế cần phải có thông tin toàn diện về những gì đang xảy ra ở phương Tây.

Người dân Nga thường xuyên tới dâng hoa trên mộ William Fisher.
Người dân Nga thường xuyên tới dâng hoa trên mộ William Fisher.

Thời điểm này, hoạt động chính của William Fisher tập trung vào chương trình hạt nhân của Mỹ. Lúc bấy giờ, Mỹ là quốc gia duy nhất trên thế giới có bom nguyên tử và đã từng sử dụng bom nguyên tử. Sự độc quyền đó trở thành mối đe dọa đối với hoà bình thế giới, vì thế Liên Xô rất quan tâm đến điều này.

William Fisher đã tiếp cận với một số nhà khoa học hàng đầu của Mỹ, thuyết phục họ hợp tác với Liên Xô nhằm loại trừ sự độc quyền của Mỹ đối với thứ vũ khí nguy hiểm này. Nhờ những thông tin mà nhóm của William Fisher thu thập được mà Liên Xô đã rút ngắn đáng kể thời gian để chế tạo thành công bom nguyên tử.

 Năm 1948, William Fisher đến Hoa Kỳ. Ở một quốc gia mới, ông trong vai một kiều dân gốc Đức, mang tên Emil Goldfus. William Fisher đã mở một hiệu ảnh và nhanh chóng bước vào môi trường sáng tạo của New York. William Fisher rất thành thạo trong nghệ thuật và có một bút pháp tốt. Sau này, William Fisher thừa nhận, không nơi nào khác và không bao giờ ông có thể sống tự do và thực hiện các hoạt động tình báo như ở giữa nước Mỹ.

Vào thời điểm đó, các đặc vụ Liên Xô đã hoạt động trong hàng ngũ cộng sản Mỹ, không ai có thể biết rằng tại bàn ăn trong một nhà hàng Soho, một điệp viên bí mật của Liên Xô với một ly rượu sâm banh và một điếu xì gà trong tay đang nói chuyện rất hay với các chính trị gia, các doanh nhân và các nhạc sĩ.

Năm 1952, William Fisher đổi bí danh thành Mark. Ông đã đạt được một chiến công cực kỳ vang dội. Đó là, từ con số “không”, ông đã xây dựng một mạng lưới tình báo ở Bờ Tây Hoa Kỳ. Mạng lưới tình báo này đã cung cấp cho Liên Xô những thông tin tình báo có giá trị.

Từ một sơ suất trong khâu liên lạc và do sự phản bội của điệp viên Haihanen, đêm 20 tháng 5 năm 1957, William Fisher bị FBI bắt trong phòng nghỉ của khách sạn “Latam”. Khi báo chí đăng tải về việc “bắt giữ Rudolph Abel”, Moscow hiểu ngay người đó là sĩ quan tình báo Ủy ban ANQG Liên Xô, Đại tá William Fisher.

Ngày 25/10/1957, ông bị tuyên phạt 45 năm tù, song ông chỉ ở trong tù có 5 năm. Ngày 10/2/1962, trên cây cầu Glienicker tại biên giới Đông và Tây Berlin,  Rudolph Abel (chính là William Fisher) được trả tự do để phía Mỹ nhận lại viên phi công gián điệp Francis Powers lái máy bay trinh sát U-2 bị bắn rơi trên bầu trời thành phố Sverdlovsk Liên Xô ngày 01 tháng 5 năm 1960.

Những đánh giá về công trạng của William Fisher

William Fisher sau đó tiếp tục công tác tại Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô. Ông tham gia vào việc đào tạo các chuyên gia trẻ, những người sẽ thực hiện nhiệm vụ của tình báo Đối ngoại Liên Xô. 

Đại tá William Fisher được Chính phủ Liên Xô tặng 3 Huân chương Sao Đỏ, Huân chương Lenin, Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương khác.

Có tài liệu giải thích rằng, vì không muốn những thông tin tuyệt mật cấp quốc gia bị các phương tiện thông tin đại chúng lan truyền, nên Nhà nước Liên Xô không phong danh hiệu “Anh hùng Liên Xô” cho các điệp viên hoạt động ở nước ngoài dưới dạng bất hợp pháp.

Trong những bài hồi ký được viết trong cuốn sách “Những bài viết của Trưởng phòng Tình báo bất hợp pháp”, cựu Cục trưởng Cục  C (Cục Tình báo bất hợp pháp) thuộc Tổng cục Tình báo Ủy ban ANQG Liên Xô, Thiếu tướng Yuri Drozdov, đã kể lại một số chi tiết về việc trao đổi tù binh.

Ông viết: “Powers – phi công máy bay trinh sát U-2 được trao lại cho người Mỹ ở tư thế được mặc một chiếc áo khoác tốt, mũ màu vàng mùa đông, thể chất mạnh mẽ, khỏe mạnh. Còn Abel (William Fisher) của chúng ta trong chiếc áo khoác của tù nhân màu xám xanh và một chiếc mũ nhỏ khó có thể vừa trên đầu. Cùng ngày, chúng tôi đã dành một vài giờ với Abel để tìm mua cho anh ấy một số thứ cần thiết trong các cửa hàng ở Berlin”.

Tướng  Drozdov còn nhớ lại: “Một lần vào cuối năm của thập niên 60, khi tôi từ Trung Quốc về nước, tôi bất ngờ gặp Abel (William Fisher) trong phòng ăn của tòa nhà chúng tôi ở Lubyanka (trụ sở của ngành Tình báo Đối ngoại Liên Xô - NCK). Abel nhận ra tôi. Anh bắt tay, cám ơn tôi và nói rằng chúng tôi cần nói chuyện với nhau. Tôi không thể, vì tối ngày hôm đó tôi đã phải lên máy bay trở lại Trung Quốc. Số phận đã sắp đặt cho chúng tôi: tôi chỉ đến thăm nơi ở của Abel vào năm 1972, nhưng vào ngày giỗ của anh. Anh mất vào ngày 15/11/1971”.

Cựu Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo Ủy ban ANQG Liên Xô, Trung tướng Vadim Kirpichenko, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, đã nhấn mạnh rằng cho đến nay, các nguồn công khai mới được nêu lên những chiến công nổi tiếng nhất của Abel (William Fisher). Những chiến công của William Fisher đã trở thành cảm hứng để điện ảnh Xôviết xây dựng nên bộ phim tình báo nổi tiếng “Thanh kiếm và lá chắn”.

Ninh Công Khoát (Theo KP.RU)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.