Văn học cũ, cần những cách đọc mới

“Phê bình văn học là sự tự ý thức của văn học”, “Phê bình là thước đo mức độ trưởng thành của một nền văn học, một nền văn học chưa thể gọi là cứng cáp nếu không có phê bình văn học” v.v... Người ta vẫn nói những điều đại loại như vậy để khẳng định vị trí của phê bình văn học trong đời sống.

Tuy vậy, không phải bất cứ ai quan tâm đến phê bình văn học cũng có chung một quan điểm về đối tượng của phê bình. Và chính sự khác biệt quan điểm này đã dẫn tới sự khác biệt trong cách ứng xử đối với các khu vực của hoạt động phê bình văn học, đôi khi rất tùy hứng.

Phê bình văn học có nhiệm vụ nhận thức, phát hiện và lý giải các giá trị nghệ thuật tiềm ẩn trong tác phẩm văn học. Nhưng tác phẩm văn học nào? Vấn đề nằm ở chính câu hỏi này. Trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay đang có ít nhất hai kiến giải:

Văn học cũ, cần những cách đọc mới -1
Một buổi toạ đàm về công tác phê bình văn học.​

1/ Đối tượng của phê bình văn học là các tác phẩm văn học đương đại - “văn học ở thì hiện tại tiếp diễn”; và 2/ Đối tượng của phê bình văn học là toàn bộ các tác phẩm văn học có ý nghĩa đương đại đối với đời sống tinh thần của con người đương đại, nói gọn lại, nó bao hàm cả “văn học ở thì hiện tại tiếp diễn” và “văn học ở thì quá khứ”.

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự khác biệt giữa hai kiến giải này chỉ là ở độ hẹp hơn (1) hay rộng hơn (2) của từng quan niệm. Tuy nhiên cái phần “dôi dư” khi ta “xếp chồng” hai kiến giải - tức là các tác phẩm văn học quá khứ - mới là ngòi nổ của không ít tranh luận và điều tiếng trong thời gian qua.

Lập luận của những người chủ trương kiến giải (1) là như sau: Văn học quá khứ, nhất là những tác phẩm đạt tới sự cổ điển, là những giá trị đã vượt qua thử thách, đã ổn định, đã được đông đảo bạn đọc thừa nhận. Do vậy, nếu khẳng định Nguyễn Du là thiên tài, "Truyện Kiều" là kiệt tác - ví dụ thế - thì cũng là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, nó cũng tức cười ngang bằng với việc một ai đó tuyên bố mình đã tìm ra châu Mỹ ở thế kỷ XXI. Và rồi từ đó, họ - những người chủ trương kiến giải (1) - dễ dàng kết tội nhà phê bình nào đến giờ phút này vẫn còn mắc mứu với di sản của ông cha: nào là không đủ năng lực và dũng khí để thẩm định những giá trị văn học đang sinh thành, nào là bỏ trốn cái hiện tại để tìm kiếm vinh quang dưới bóng đổ của những tượng đài văn học quá khứ v.v... Tựu trung, họ yêu cầu phê bình văn học phải nhắm vào văn học đương đại, vào cái mớ bòng bong các tác phẩm văn học đang tuôn ra ào ào mà sự hay dở tốt xấu của chúng rất cần đến con mắt phân định của nhà phê bình. Còn đối với các tác phẩm văn học quá khứ, thì... nên kính nhi viễn chi.

Thực ra, yêu cầu lý giải, phát hiện, thẩm định đối với văn học đương đại - một yêu cầu rất chính đáng - không phải không nằm trong quan niệm của những người theo kiến giải (2). Nhưng, với sự nới rộng phạm vi của đối tượng mà phê bình văn học phải giải quyết, họ đã không bỏ qua văn học quá khứ. Xin được nói ngay: đây là điều hoàn toàn hợp lý. Bảo rằng Nguyễn Du là thiên tài, "Truyện Kiều" là kiệt tác, và chỉ có thế, thì đúng là cũ mèm và cũng chẳng có gì oan uổng khi nó bị những người theo kiến giải (1) kết tội.

Nhưng thực tế của lịch sử phê bình "Truyện Kiều" lại cho thấy, khi tiếp cận trở lại với kiệt tác này, mỗi một nhà phê bình đều đã nỗ lực phát hiện và chứng minh thiên tài Nguyễn Du ở những phương diện mà người đi trước chưa chỉ ra được: Hoài Thanh đọc thấy quyền sống của con người trong "Truyện Kiều", Lê Đình Kỵ tôn vinh chủ nghĩa hiện thực của "Truyện Kiều", Phan Ngọc lập hồ sơ cho những thao tác lựa chọn của Nguyễn Du khi viết "Truyện Kiều", Trần Đình Sử tâm đắc với mô hình tự sự độc đáo của "Truyện Kiều"...

Tóm lại, những phẩm chất nghệ thuật tiềm ẩn trong kiệt tác "Truyện Kiều", những phẩm chất nghệ thuật cho thấy thiên tài Nguyễn Du chỉ được "phát hiện dần theo thời gian" (tôi nhấn mạnh), và cho tới thời điểm hiện tại, quá trình này vẫn chưa kết thúc (Lý thuyết về tác phẩm văn học của Roman Ingarden và tác phẩm mở của Umberto Eco đặt cơ sở lý luận cho một niềm tin như vậy). Những ví dụ từ lịch sử phê bình "Truyện Kiều" cho thấy văn học quá khứ - nhất là những kiệt tác - không bao giờ chịu đông cứng ở một vài phán đoán giá trị cụ thể. Vấn đề ở chỗ là nhà phê bình có đủ sức để đọc nó một cách khác hay không? Nghĩa là, trong câu chuyện chúng ta đang bàn, phê bình văn học có thể và cần phải không được bỏ qua cái mảng tác phẩm vô cùng quan trọng này.

Thời gian gần đây, khi quan sát một số giải thưởng văn học thường niên có uy tín (trong nước), tôi nhận thấy giải lý luận phê bình rất ít khi (thậm chí là không bao giờ) được trao cho những tác phẩm viết về văn học quá khứ, mặc dù nó có thể rất giàu giá trị học thuật. Vì sao? Là vì nó viết về văn học quá khứ nên không có tác động tích cực gì đối với đời sống văn học đương đại - những người trao giải cắt nghĩa như vậy. Tất nhiên, mỗi giải thưởng đều có những tiêu chí riêng của nó, điều đó tôi không bàn ở đây. Cái đáng phải xem xét là quan niệm về chức năng của phê bình văn học đối với đời sống văn học nói chung, cụ thể là với người sáng tác và với công chúng.

Với công chúng, phê bình văn học làm nhiệm vụ đề xuất một cách đọc, một cách giải mã tác phẩm, qua đó thực hiện chức năng định hướng thẩm mĩ. Hoặc, ở mức đơn giản hơn, phê bình văn học giới thiệu tác phẩm cho độc giả, giúp họ lựa chọn cái để đọc, cái đáng đọc giữa một biển tác phẩm mênh mông. Những điều đó rất cần trong trường hợp đối tượng của phê bình là văn học đương đại. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp đối tượng của phê bình là văn học quá khứ thì điều đó vẫn cần.

Được đọc một tác phẩm mới nhất của văn học đương đại, và được thưởng thức lại một tác phẩm quá khứ nhưng dưới một sự chiếu rọi mới, một nhãn quan mới, cả hai đều có tác dụng tốt như nhau đối với độc giả. Chỉ có thể phủ định những công trình, hoặc những bài phê bình văn học quá khứ nào nói toàn chuyện đã cũ mà thôi. Còn nếu chỉ vì nó đề cập tới văn học quá khứ mà vội nói rằng nó không có tác động tích cực tới đời sống, thì coi chừng, ta đang làm cái việc mà ngạn ngữ đã cảnh báo: “hắt chậu nước, hắt luôn cả đứa bé trong chậu”.

Văn học cũ, cần những cách đọc mới -0
Phê bình văn học luôn cần sự khách quan, trung thực. Ảnh có tính chất minh hoạ.

Còn với người sáng tác thì sao? Phê bình đích thực phải chỉ ra và lý giải được cơ cấu nghệ thuật nằm ở tầng sâu của tác phẩm, vạch ra được con đường tư duy sáng tạo mà tác giả đã đi qua, kể cả những nẻo đường chìm trong vô thức. Làm được như vậy, phê bình đặt tác giả vào tình huống mặt đối mặt với chính mình, với những khả năng lựa chọn phương án cho các tác phẩm tiếp theo của mình: phải đổi khác, hoặc vẫn giữ nguyên như cũ. Phải nói ngay, điều này khác hẳn với cái cách nhà phê bình cầm tay người sáng tác để dạy bảo, như Aristotle đã làm từ thời cổ Hy Lạp. Trên phương diện ấy, quả là phê bình đã cho thấy tác động thiết thực của nó khi nó hướng tới văn học đương đại, nơi mà tác phẩm đang sinh thành từng ngày từng giờ. Nói như vậy không có nghĩa là việc phê bình các tác phẩm văn học quá khứ ở đây trở nên vô ích. Có lẽ, phải hình dung sự tác động của phê bình trong trường hợp này không phải theo đường thẳng, mà là theo đường vòng.

Chúng ta thấy rằng, mỗi một phương pháp phê bình văn học mới ra đời, thường ít khi xuất hiện lần đầu tiên dưới dạng những nguyên tắc lý thuyết thuần túy. Nó gắn với các tác phẩm văn học cụ thể, mà không hề ngẫu nhiên, đó lại là những tác phẩm văn học quá khứ. Bởi lẽ, chỉ ở đây, ở những mảnh đất đã bị cày đi xới lại, chừng như không hứa hẹn một điều gì mới, thì tính năng của phương pháp phê bình mới ấy mới được chứng minh.

Khi A. Propp phân tích hình thái học của truyện cổ tích thần kỳ, khi Yu. Lottman phân tích thơ của Puskin và Lermontov, khi Roman Jacobson phê bình bài thơ “Con mèo” của Beaudelaire, khi Charles Mauron giải mã sáng tác của Lautremont, khi Roland Barthes tìm hiểu bi kịch của Racine v.v... tất cả dường như đều cùng mục đích. Họ không những chỉ ra những phương diện mới, chưa từng được phát hiện ở tác phẩm văn học quá khứ. Điều quan trọng hơn, là họ trình bày một phương pháp làm việc mới, đề xuất một cách tiếp cận mới đối với các tác phẩm văn học nói chung, để từ đó, những người khác có thể sử dụng nó mà soi chiếu vào các tác phẩm văn học đương đại. Nói việc phê bình các tác phẩm văn học trong quá khứ có tác động tới đời sống văn học đương đại theo đường vòng, là như vậy.

Từ tất cả những điều đã trình bày ở trên, xin được mạnh dạn kết luận: việc phê bình văn học hướng về các tác phẩm văn học trong quá khứ, văn học cũ - cùng lúc với việc nó không bỏ qua mặt trận văn học đương đại - là điều cần thiết và phải được tôn trọng. Vấn đề còn lại, đáng nói, chỉ là tài năng của nhà phê bình mà thôi.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).