"Văn chiêu hồn" – Nhìn từ đối thoại văn hóa

Về bản chất, văn chương là tiếng nói đối thoại, càng đậm tinh thần đối thoại có nghĩa càng giàu có giá trị nhân bản. Soi ánh sáng đối thoại của triết học văn hóa hôm nay vào "Văn chiêu hồn" của Nguyễn Du ra đời đã trên dưới 250 năm càng thấy kiệt tác ánh lên những vẻ đẹp nhân văn lộng lẫy hiếm có, khác thường, đi trước thời đại.

"Đối thoại văn hóa" trong bối cảnh toàn cầu hóa hôm nay hầu như được nhìn nhận một cách tương đối thống nhất. Đó là quá trình giao lưu, hợp tác, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau khẳng định vị thế, cùng thể hiện khát vọng hòa bình, hữu nghị. Để có thể đối thoại cần phải có 4 yếu tố: hiểu biết, bình đẳng, tôn trọng, biết lắng nghe. 

Ngày nay người ta khẳng định chỉ có đối thoại mới giải quyết vấn đề theo hướng tính người nhất, vì con người nhất. Nếu cuộc sống là đối thoại, thì con người là trung tâm của những đối thoại. Về bản chất, văn chương là tiếng nói đối thoại, càng đậm tinh thần đối thoại có nghĩa càng giàu có giá trị nhân bản. Soi ánh sáng đối thoại của triết học văn hóa hôm nay vào "Văn chiêu hồn" của Nguyễn Du ra đời đã trên dưới 250 năm càng thấy kiệt tác ánh lên những vẻ đẹp nhân văn lộng lẫy hiếm có, khác thường, đi trước thời đại.

Những cô hồn vất vưởng- (tranh có tính chất minh họa).
Những cô hồn vất vưởng- (tranh có tính chất minh họa).

Nhà văn bao giờ cũng đối thoại bằng mô hình, thông qua một mô hình nghệ thuật. Trở thành tài năng, mô hình này biểu hiện phong cách của nhà văn. "Truyện Kiều" là một mô hình nghệ thuật rất riêng, đặc sắc. Đến "Văn chiêu hồn" là một đặc sắc khác.

Trước đó, Vua Lê Thánh Tông có "Thập giới cô hồn quốc ngữ văn" cũng là văn tế cô hồn nhưng chữ "giới" ở đây có nghĩa là khuyên răn nên áng văn tế này thiên về giáo dục đạo lý, nói về người chết để dạy người sống. "Văn chiêu hồn" của Nguyễn Du cũng nằm trong "nhiệm vụ" chung của văn học trung đại răn dạy đạo lý nhưng rất nghệ thuật, nhất là rất cảm động nên thấm thía. 

Nguyễn Du dùng hình thức song thất lục bát chứ không theo thể phú truyền thống, vừa hợp với tài năng sáng tác lục bát điêu luyện ("Truyện Kiều"), cũng là một cách đối thoại hô ứng về hình thức với các tác phẩm đỉnh cao cùng thời ("Chinh phụ ngâm", "Cung oán ngâm khúc", "Ai tư vãn"...). Hình thức này rất phù hợp với mô hình nội dung vừa để kể, tái hiện (tự sự), vừa thể hiện tình cảm đau xót, bi ai (trữ tình).

Thực ra có hai mô hình, một là mô hình nói về những con người lúc đang còn sống và mô hình nói về những "cô hồn" lang thang dưới cõi âm. Nhưng tâm huyết, tình cảm của nhà thơ dồn cho mô hình sau nhiều hơn nên người đọc bị cuốn theo mà có khi "quên" đi mô hình đầu. 

Thực ra tác giả cũng đã có ý "đồng nhất" hai "mô hình" này ngay từ đầu tác phẩm: "Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt/ Toát hơi may lạnh buốt xương khô/ Não người thay buổi chiều thu/ Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng/ Đường bạch dương bóng chiều man mác/ Ngọn đường lê lác đác sương sa/ Lòng nào là chẳng thiết tha/ Cõi dương còn thế nữa là cõi âm". 

Tuy là thế giới dương gian nhưng cũng không mấy sức sống, thê lương, lạnh lẽo nên không có bóng người. Nó chẳng khác một "nghĩa trang" trên dương thế đầy âm khí. Mô hình này có tác dụng như một điểm gợi dẫn để đưa bạn đọc đến với mô hình cơ bản là "cõi âm".

Một thế giới cõi âm cực kỳ bi đát, đói khát, đau khổ, đen tối với những cô hồn lang thang, vất vưởng, có kẻ còn đầu, có kẻ mất đầu, ngơ ngác, ngẩn ngơ, xiêu dạt, không chốn nương tựa... Những cô hồn "lôi thôi bồng trẻ dắt già" đêm đến thì bìu ríu kéo về: "Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi/ Hoặc là nương ngọn suối chân mây/ Hoặc là bụi cỏ bóng cây/ Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ/ Hoặc là nương thần từ, Phật tự/ Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông/ Hoặc là trong quãng đồng không/ Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre", cho đến khi "Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn/ Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra...".

Đó là một thế giới cực kỳ đáng thương về hình ảnh những thân phận lạc loài, bất hạnh tác động trực tiếp đến người đọc để tạo nên một hiệu ứng bi cảm rất rõ rệt. Ở thế giới đó ai cũng ai: "Còn chi ai quý ai hèn/ Còn chi mà nói ai hiền ai ngu", đều đáng được hưởng sự đoái hoài chút ít yêu thương của người sống!

Sự thấu hiểu đến tận đáy "thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du thể hiện ở sự khái quát cao nhất một quá trình biến đổi trong thế đối lập (cả khi còn sống và khi đã chết) của một loại người. Ví như kẻ buôn bán: "Cũng có kẻ đi về buôn bán/ Đòn gánh tre chín dạn hai vai/ Gặp cơn mưa nắng giữa trời/ Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?". Nhưng dù là loại người nào thì khi chết cũng đều "bình đẳng", mà người dương thế gọi chung là "ma": "Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người/ Hương khói đã không nơi nương tựa/ Hồn mồ côi lần lữa đêm đen…". Nhưng "ma" ở đây thật đáng thương vì là những "cô hồn", "mồ côi", "lênh đênh"... 

Xét về mặt mô hình, đây là một thế giới "ma" nhưng rất đặc biệt là "ma" mồ côi tức những người bị chết "bất đắc kỳ tử", xa quê hương bản quán, vô thừa nhận, nên khi chết không được hương khói, cúng tế. Dân gian gọi họ là những "cô hồn". Về mặt thể loại, là văn tế, thống thiết, bi ai, ngậm ngùi nhưng vượt qua hình thức thể loại, nó trở thành tiếng lòng của tác giả như "tri âm" cùng các nhân vật, đối thoại, giãi bày, chia sẻ, đồng cảm. Đọc lên, như không còn thấy câu chữ mà chỉ thấy tình người, thấy nước mắt của Nguyễn Du vẫn còn nhòe trên văn bản. 

Như nói về "kiếp" "buôn nguyệt bán hoa": "Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp/ Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa/ Ngẩn ngơ khi trở về già/ Đâu chồng con tá biết là cậy ai?/ Sống đã chịu một đời phiền não/ Thác lại nhờ hớp cháo lá đa/ Đau đớn thay phận đàn bà/ Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?". Đọc những lời này càng thấm thía hơn về cô Kiều đau khổ, càng thấy rõ hơn vì sao Nguyễn Du viết "Kiều" hay thế và cảm động đến vậy. Chỉ 8 câu thơ mà gói vào đó một "kiếp" cả khi sống lẫn lúc chết. 

Hai chữ "nhỡ nhàng" đã khái quát cả một đời không "thuận buồm xuôi gió" mà long đong cơ nhỡ. "Nhỡ nhàng" vì dại dột, vì bắt đầu là sự cả nể, hay không thể khác do hoàn cảnh... Hai chữ "ngẩn ngơ" bẻ gãy đôi một cuộc đời bạc phận, quá khứ khi trẻ và hiện tại "phiền não". "Ngẩn ngơ" vừa là ngơ ngác với hôm nay vừa là tiếc nuối cái hôm qua, vừa trăn trở bẽ bàng quá khứ vừa xót xa trống không hiện tại... Sống đã vậy, chết rồi cũng nhờ sự bố thí "hớp cháo lá đa"... Hình tượng ám ảnh. Câu chữ ám ảnh. Thơ hay trước hết phải tạo ra sự ám ảnh...!!!

Bìa một cuốn "Văn tế thập loại chúng sinh” của đại thi hào Nguyễn Du.
Bìa một cuốn "Văn tế thập loại chúng sinh” của đại thi hào Nguyễn Du.

Nếu đối thoại là biết lắng nghe thì Nguyễn Du đi trước thời đối thoại hôm nay hàng trăm năm. Thậm chí ông nghe kỹ, tinh và đau đời hơn cả hôm nay rất nhiều. Có mấy ai "nghe" thấy tiếng khóc ai oán của những oan hồn tiểu nhi có lẽ chỉ kịp khóc để chào đời, chưa kịp có những tiếng khóc sống với đời: "Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé/ Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha/ Lấy ai bồng bế vào ra/ U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng". "U ơ" là âm thanh khuyết thiếu, chưa thành tiếng khóc của "u oa" hay "oa oa" đủ đầy, tròn trịa!!!

Đối thoại là tiếng nói thì "Văn chiêu hồn" là tiếng nói của phong tục cúng cô hồn đậm tinh thần nhân văn nhân nghĩa của người Việt. Ngày trước làng nào cũng thường có một cái miếu cô hồn nơi đồng không mông quạnh để các cô hồn có chỗ nương bóng tụ bạ. Trong miếu thì ngày rằm, mồng một, nhất là Rằm tháng Bảy người dân thắp thẻ hương an ủi, cúng ít cháo cho vào các lá đa... Nới rộng hơn, người ta dành cả ngày Rằm ấy để cúng cô hồn. Câu "Cúng cả năm không bằng ngày rằm tháng bảy" cho thấy cái tình thương chúng sinh người Việt lớn lắm! Mọi cái cúng đều "không bằng" cơ mà!

Thi phẩm là tiếng nói của "văn tế", đúng hơn là tiếng khóc của lòng người, của tình thương người. Ngày trước, cũng vào ngày Rằm tháng Bảy, các cụ tổ chức cúng cô hồn ở đình, chùa. Cụ nào "đẹp" giọng nhất đọc "Văn chiêu hồn". Đọc đến đâu người nghe sụt sùi nức nở đến đấy. Đọc xong là một khoảng lặng đến rợn người (Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay). Mãi lúc sau tiếng thanh la chũm chọe mới gượng gạo cất lên...Thơ hay là để cho tiếng lòng tìm đến tiếng lòng!

"Văn chiêu hồn" còn là tiếng nói, tiếng gọi "giải thoát" hướng về nhà Phật: "Mười loài là những loài nào?/ Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.../ Ai ơi lấy Phật làm lòng/ Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi". Hướng về Phật tức là có sự giải thoát nên nỗi đau vơi hẳn, ý thơ nông hơn, tình thơ nhẹ đi. Vì thế mà cả đoạn cuối này cứ như không phải của Nguyễn Du mà của nhà Phật. Giọng Nguyễn Du đã hòa vào giọng nhà Phật. Văn bản thiên về lời nhà Phật, tình nhà Phật!

Tại sao vậy? Có một sự thật là ngày xưa cúng cô hồn thường ở nhà chùa (nơi tụ tập đông người hơn cả), do nhà chùa tổ chức. Nên một ý kiến rất có lý là Nguyễn Du làm bài này ở nhà chùa, cho nhà chùa!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).