Tiếng dế gáy trên cánh đồng văn hóa!

Không nói tới chú dế mèn trong "Dế mèn phiêu lưu ký" của nhà văn Tô Hoài đã nổi tiếng trong và ngoài nước, xin được khái quát về hình tượng con dế nói chung gắn liền với một thú chơi ở châu Á. Ở Việt Nam thú chọi/đá dế thường chỉ ở trẻ em nông thôn nhưng với Trung Quốc láng giềng, là thú chơi phổ biến của mọi người có lịch sử lâu đời.

Trong các sách cổ Trung Hoa, nhất là trong "Kinh Thi" đã nói nhiều đến hình tượng con dế. Nhiều ghi chép kể dế có trong văn học từ thời Tiên Tần (350-394), rồi cất tiếng gáy trong thi phú thời Hán, thơ Đường - Tống, cho đến tiểu thuyết Minh Thanh…

Tiếng dế gáy trên cánh đồng văn hóa! -0
Dế mèn - Tranh vẽ của Tạ Huy Long!

Theo nhiều giả thiết, thú chơi chọi dế có từ thời nhà Đường (618-907). Bắt đầu không phải từ vùng thôn quê mà lại từ nơi cung cấm triều đình. Thời ấy mỹ nữ trong triều có tới hàng ngàn, làm gì có chuyện "mưa cho khắp", để tránh buồn chán, họ bèn nghĩ ra chuyện bắt dế, mang về nhốt trong những cái lồng xinh xinh, đặt gần đầu giường để nghe những tiếng gáy hoang dã đồng quê...

Lại có thuyết cho rằng chọi dế có từ đời Nam Tống - thời kỳ đất nước rơi vào tình thế cấp bách, quân xâm lược chuẩn bị chiếm lãnh thổ. Trước hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", triều đình kêu gọi trai tráng ra trận. Người ta nghĩ ra cách tuyên truyền, kích thích tinh thần thượng võ là "chọi dế".

Dựa vào một đặc trưng sinh học của dế là tính bảo vệ lãnh địa rất cao. Một khi có kẻ "xâm lược", dế ta giương cặp râu, nhe răng sắc, múa cẳng giơ gươm, quyết một trận sống còn. Thế là dế được xếp vào loại "Phùng địch tất đấu, dũng dã/ Bại nhi bất minh, tri sỉ dã" (Gặp kẻ thù tất phải chiến đấu, dũng cảm/ Thất bại không oán trách, vì biết xấu hổ). Mà dế thì nhiều vô cùng, cúi xuống vạch bụi cỏ hoặc cuốc đất là có thể bắt được những con dế đực khỏe mạnh hiếu chiến…

Đồng thời dế còn phù hợp với cả tâm trạng phụ nữ thôn quê có chồng, con ra tiền tuyền. Là bởi, những con dế đực, vào lúc đêm khuya cất tiếng gáy giãi bày, nỉ non rất "mê hoặc" như than vãn, ai oán; như cởi bỏ muộn phiền; như động viên chia sẻ; như giục giã, mạnh mẽ… Đại để tiếng kêu của dế phù hợp với nhiều tâm trạng người nữ.

Từ thời Đường, cả trong cung đình lẫn ngoài dân dã thường lấy quả bầu khô rỗng ruột làm lồng nuôi dế. Lồng dế trở thành sản phẩm nghệ thuật. Mãi gần đây người ta mới tìm ra lý do: vỏ bầu khô có tác dụng khuếch đại âm thanh. Nhất là trong đêm khuya, âm thanh dế kêu trong vỏ bầu càng vang, trong, rõ hơn…

Tiếng dế gáy trên cánh đồng văn hóa! -1
Hình minh họa chơi chọi dế ở Trung Quốc thế kỷ XVIII.

Dần dần chọi dế trở thành tập quán quen thuộc, là niềm say mê của nhiều người, kéo dài đến tận ngày nay. Dế chọi phải là dế đực, thân thuôn, đen bóng hoặc nâu sẫm, nhanh nhẹn, đầu to, vai rộng, bụng nhỏ, chân cao, càng mập, râu dài mướt, cánh nổi rõ đường vân, đầu cánh có chấm vàng. Đặc biệt, tiếng gáy phải to, hơi chói gắt. Từ xa xưa, chọi dế đã có quy định nghiêm ngặt, có tới 4, 5 vòng thẩm định.

Vòng đầu, kiểm tra thân dế, nhất là trên hai nanh hàm có "vũ khí" nào "phát sinh" không (đề phòng chủ dế cài cắm thêm). Vòng hai, nhúng vào nước lã xem thân dế có thuốc bôi gì không (ngày xưa có trường hợp bôi nhựa cây, thuốc làm say, đối phương cắn vào sẽ bị ảnh hưởng; ngày nay là thuốc hóa học). Vòng ba, cân (bằng cân tiểu ly) để phân hạng.

Sau đó, nhà tổ chức cho dế vào hộp rồi niêm phong đủ 4 ngày trước khi thi đấu. Trong 4 ngày này tất cả các "đấu sĩ" đều được ăn cùng một loại thức ăn (thường là cỏ ấu, đậu non, ngô sữa, cỏ mật…), nước uống. Một ngày trước khi thi, mỗi hộp dế đực được bỏ vào một con dế mái (để "tăng cường", "kích thích" tính chiến đấu!)…

Buổi đấu diễn ra rất sôi nổi, kịch tính, cũng cá cược, ăn thua… Dế chọi được huấn luyện thường không đánh nhau ngay mà thăm dò, giữ miếng, rồi "ra giàng", "diễu võ giương oai", khe khẽ gáy… Lúc lâu mới tiến lại gần, bất ngờ chống càng, ghé hàm cắn, ghì chặt,… tung càng đá hậu… Cũng rất nhiều "ngón"!

Chung quanh trò đấu dế chắc có nhiều chuyện vui buồn, đi vào văn chương kết thành nhiều tác phẩm, nhưng để lại nỗi ám ảnh, có truyện "Xúc chức" (Con dế) in trong "Liêu trai chí dị" của Bồ Tùng Linh (1640-1715). Kể rằng nhà vua (Tuyên Đức thời Minh) thích chọi dế, bắt dân dâng dế hay. Khó khăn lắm Thành Danh (tên nhân vật) bắt được dế, nhưng đứa con trai chín tuổi vô ý, làm dế chết lòi ruột. Sợ quá, thằng bé trốn biệt.

Tìm khắp nơi, cuối cùng thấy xác nó dưới giếng. Bật toát ra cái ý đả kích: Thú vui của kẻ thống trị phải đổi bằng mạng người. Hồn thằng bé hóa thành một con dế chọi tiến cung, cha mẹ nó được ban thưởng. Kết thúc có hậu "ở hiền gặp lành" nhưng ý nghĩa tố cáo thì thật lớn: thì ra kẻ bị trị bị bóc lột, hành hạ, phải làm tôi tớ, làm trò vui cho kẻ thống trị cả lúc sống lẫn khi chết!

Không thấy sử sách ghi lại việc "chọi dế" trong không gian cung đình ở Việt Nam nhưng có truyện cổ tích "Người hóa dế" rất đáng chú ý. Kể vào đời nhà Lê hay chơi trò chọi dế. Nhà vua lại là người say mê nhất. Vua ra lệnh mỗi tổng phải nộp một con dế chọi. Dế hay sẽ miễn trừ sưu thuế, còn không, phải tội nặng.

Ông cai tổng làng Đại Mão nuôi được con dế quý đợi ngày tiến vua. Nhưng đứa con trai vô tình làm dế chết. Hoảng sợ, nó trốn đi. Con mất, dế chết. Vào bước đường cùng, ông bà cai tổng định tự vẫn… Thằng bé đi lạc vào rừng gặp một đạo sĩ và được biến thành con dế bay về để bố tiến vua. Con dế thắng hết mọi đối thủ. Tổng Đại Mão được miễn thuế ba năm. Xong các cuộc đấu, dế ta bay về gặp đạo sĩ để trở lại làm người…

Bối cảnh, chi tiết, địa danh trong "Người hóa dế" của ta nói về thời Lê, như vậy truyện này có trước "Liêu trai" (hoàn thành vào khoảng từ năm 1681 đến 1714). Nằm trong quy luật tiếp biến văn hóa, nếu Bồ Tùng Linh tham khảo, chắt lọc, sửa sang, bổ sung truyện này để viết thành "Xúc chức", cũng không có gì lạ. Cũng đúng với cuộc đời Bồ Tùng Linh chăm chỉ sưu tầm truyện kỳ quái trong thế gian tập hợp thành sách. Hai truyện cùng môtip nhưng dễ nhận ra sự khác nhau: "Xúc chức" đào sâu vào tính bi kịch để có tiếng nói tố cáo sâu sắc hơn. Tính kỳ ảo của "Người hóa dế" hướng ý nghĩa về lòng báo hiếu của con cái với cha mẹ.

Lại có "Sự tích con dế", kể ngày xưa có người đàn ông nọ, vợ chết để lại đứa con trai tên Văn Linh. Ông tục huyền lấy vợ hai, đẻ một đứa con trai khác tên Văn Lang. Người chồng cũng chết để lại cảnh "mẹ ghẻ con chồng". Văn Lang không nghe lời mẹ giết Văn Linh mà xui anh trốn đi nơi thật xa. Hồn ma mẹ hiện về giúp Văn Linh học hành đỗ tiến sĩ. Văn Linh trở về nhà cũ. Dì ghẻ xấu hổ chui xuống gầm giường chết hóa thành con dế.

Cốt truyện quen thuộc, tình tiết không mới, nội dung cũng không có gì đặc biệt, đối chiếu với các truyện khác, cho thấy trong văn hóa Việt, con dế không được chú ý (so với nhiều vật hoang khác). Trong ca dao, dế xuất hiện dưới âm thanh của tiếng kêu buồn: "Đêm qua em có ngủ đâu/ Em nằm nghe dế kêu sầu bên tai"; "Dế kêu sầu nhiều câu rỉ rả/ Nhớ bạn chung tình thức cả đêm đông". Mượn tiếng dế để bày tỏ hoàn cảnh, nỗi niềm: "Dế kêu ngâm tình thâm nghĩa trọng/ Anh liệt chiếu liệt giường vì bởi thương em". Lấy tiếng dế để khẳng định một tấm lòng: "Dế kêu cho giải cơn sầu/ Mấy lời em nói, bạc đầu không quên"…

Tiếng dế ít vang trong thơ cổ nhưng trong thơ hiện đại xuất hiện nhiều. Có những bài ấn tượng, như bài "Con yêu mẹ" của Xuân Quỳnh: "À mẹ ơi có con dế/ Luôn trong bao diêm con đây/ Mở ra là con thấy ngay/ Con yêu mẹ bằng con dế". Lời thơ hồn nhiên trong sáng của đứa trẻ là rất thật. Nó yêu mẹ bằng cảm quan của chính nó. Yêu con dế bao nhiêu thì yêu mẹ bấy nhiêu.

Bài "Con giun con dế" của Vũ Quần Phương thật trải đời, đầy chiêm nghiệm: "Không được làm con giun/ giấu mình vào đất/ âm thầm làm cho đất phì nhiêu/ thì làm con dế/ kêu/ cho những ai không ngủ/ nghe được chính lòng mình/ mà nhớ trời cao/ cho lặng im nước mắt…". Được "phú" cho vai trò "thức tỉnh", hình tượng con dế chợt vụt lớn lên một tầm vóc khác thường: "con dế suốt canh thâu/ thầm thĩ mài đêm/ thành ánh sáng". Hai chữ "thầm thĩ" lạ mà công phu. "Thầm thì" chỉ là tượng thanh. "Thầm thĩ" cả tượng thanh lẫn tượng hình gợi về sự chịu đựng, miệt mài, kiên trì. Các phạm trù đối lập (con dế bé nhỏ, sống dưới đất suốt canh thâu/ ánh sáng) làm bật ra triết lý: có khi cái bé nhỏ, tưởng chừng vô giá trị lại tạo ra "ánh sáng"!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.