Thơ để đọc và thơ để nghe

Một bài thơ hay là một thực thể - có thể là bằng văn bản nằm ngay trước mắt, có thể là được đọc hay ngâm vang lên bên tai, thậm chí, với cách hiểu của tôi, tôi luôn cho rằng thơ là một thể loại văn học gần nhất với nghệ thuật, mà ở đây là âm nhạc. Thơ luôn vang lên trong ta, dù ta đọc hay xem nó trong im lặng hoàn toàn. Vâng, và tôi đảm bảo là cũng một câu thơ thôi, nhưng người Hà Nội cảm nhận nó theo âm hưởng tiếng miền Bắc, còn người Huế chẳng hạn, sẽ cảm nhận nó bằng âm hưởng tiếng Huế, các bạn cứ cố hình dung mà xem...

Tôi có một từng trải lý thú: Đã đi nói chuyện thơ cho nhiều đối tượng người nghe khác nhau, nhưng mấy lần tôi nói cho các bạn trong Hội người mù nghe là xúc động nhất, và có lẽ thành công nhất. Vì đơn giản các bạn ấy không bị phân tán bởi cái nhìn của mắt, mà chỉ toàn tâm toàn ý tập trung vào cái tai nghe… Họ ngồi nghe chăm chú và say sưa!

image001.jpg -0
Ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tuyệt vời như những bài thơ, nhưng nếu nó chỉ được tồn tại bằng văn bản, như là tác phẩm văn học, thì nó chỉ còn lại 49% giá trị.

Tôi không phải là một người quá cực đoan, nên về điều này tôi cho rằng:

1.Thơ là ngôn ngữ, nên dĩ nhiên phần quan trọng của nó là nó mang thông điệp trong từng từ ngữ. Và điều này rất đúng khi ta đọc thơ bằng văn bản và chỉ bằng văn bản mà thôi. Ta sẽ cảm nhận cái hay của thơ từ những từ ngữ cụ thể và có thể nhận ra từ ngữ dùng như thế trong trường hợp đó thì hay ở đâu… ta có thể sửa và đưa ra những phương án khác v.v…Ví dụ thú vị cho điều này có lẽ là câu chuyện về hai từ "thôi, xao" ("đẩy, gõ") thời Đường.

Chuyện kể rằng thời nhà Đường bên Trung Hoa có nhà thơ Giả Đảo, vốn là một vị hòa thượng, và ông này làm thơ kỹ lưỡng đến mức trong một bài thơ của ông có câu "nhà sư… cửa dưới trăng", ở chỗ bỏ trống này là do Giả Đảo vô cùng phân vân không biết nên dùng từ "gõ" (cửa) hay "đẩy" (cửa)… đến nỗi ông mải nghĩ không để ý nên cứ đứng chắn giữa đường của một đoàn quân đang hành quân, lính tráng thấy một người như điên, đứng huơ chân múa tay đang làm động tác gì đó cản bước đoàn quân nên liền gô cổ ông lại và dẫn đến vị chỉ huy, may sao ông quan chỉ huy ấy lại là nhà thơ Hàn Dũ lừng danh, và khi nghe Giả Đảo tường trình vụ việc liền vui vẻ góp ý cho nhà thơ này là nên dùng chữ "xao" cho câu thơ trên. Vì "xao" vừa tượng hình tượng thanh hơn "thôi", lại vừa hợp lý hơn vì đến nhà thăm bạn thì phải "gõ" cửa chớ sao lại "đẩy" cửa cho được! Vì cái duyên chữ nghĩa này mà mấy lần Hàn Dũ đã giới thiệu và khuyến khích Giả Đảo hoàn tục để tiếp tục lai kinh ứng thí.

Nói như thế để thấy từ ngữ trong thơ có thể mang nghĩa và việc tìm nghĩa cho nó để nó có tính biểu cảm là kỳ khu và dụng công vô cùng, không ai có thể coi thường mà ném ra những từ ngữ miễn là nó có nghĩa hợp lý.

Nhưng ví dụ chính xác nhất cho thứ thơ chỉ tận dụng phần ngữ nghĩa của từ ngữ chính là các loại thơ hiện đại hiện nay. Các bạn sẽ thấy thơ của các nhà thơ hiện đại (hậu hiện đại thì đúng hơn) là một thứ ngôn ngữ dùng hình ảnh (nhiều khi rất tinh tế) để chở các ý tưởng (nhiều khi rất sâu sắc và có tính khám phá)… nhưng họ gần như không dùng đến phần phi ngữ nghĩa của các từ ngữ (chẳng hạn những từ phụ, từ hư, từ đệm, hô ngữ…) và đặc biệt là không cần sự hỗ trợ của nhạc tính, sự lay động của những yếu tố vô nghĩa, phi lý tính trong ngôn ngữ…

Loại thơ này thực sự có những giá trị cao quý và được một số người tâm đắc. Trường thơ rộng bát ngát, cũng như mâm cơm có nhiều món, đủ đáp ứng mọi thứ khẩu vị. Ta không nên và không thể bắt mọi người không được thích và chọn ăn thứ đặc sản của họ.

2. Nhưng theo thiển ý của tôi, thơ là gồm cả phần ngữ nghĩa như đã nói trên đây và không thể thiếu phần phi ngữ nghĩa. Tôi cũng chưa cực đoan đến mức coi thơ như âm nhạc, chẳng hạn, ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tuyệt vời như vậy, nhưng nếu nó chỉ được tồn tại bằng văn bản, như là tác phẩm văn học, thì, lạy Chúa, nó chỉ còn lại 49% giá trị không hơn…

image002.png -0
Hình vẽ Giả Đảo, nhà thơ Trung Quốc thời Trung Đường, người nổi tiếng về sự cẩn trọng trong việc dùng chữ cho thơ.

Nhưng thơ là một loại "động vật lưỡng thê", có hai đời sống. Những bài thơ hay nhất từ thuở thơ Đường cách nay hơn ngàn năm đến nay vẫn khiến chúng ta xúc động vô cùng… nhưng nếu đưa cho các bạn yêu thơ duy lý (nhất là ở phương Tây) thì họ không công nhận đâu. Nhưng những câu thơ trong "Thanh minh" của Đỗ Mục - trong nguyên bản đã hay, và vẫn hay trong bản dịch Việt ngữ:

"Thanh minh lất phất mưa phùn
Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa
Hỏi thăm quán rượu đâu là
Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài"

Không có một tư tưởng nào, một triết lý nào, và cả các thủ pháp tu từ cũng không nốt… mà những ai đồng cảnh ngộ như nhân vật của thơ cứ nhớ đến hình ảnh trong đó là đồng cảm dễ sợ…

Hoặc một bài như "Lương Châu từ" tả cảnh một đồn biên ải heo hút tận trên đỉnh núi chơ vơ ở chót biên cương phía Tây của Trung Quốc ngày xưa… cái "nhất phiến cô thành vạn nhận san" ấy và câu thơ kỳ lạ: "Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan"…đã khiến bao đời nay hễ ai nhớ đến hình ảnh ấy cũng buồn thấm buồn thía…

Và đó là thơ hay. Vì nó khiến ta xúc động và có thể không hiểu, không cần phải cắt nghĩa vì sao…

Trở lại với cái phi ngữ nghĩa và sự lay động của nhạc tính, tôi xin kể một kỷ niệm:

Trong lần được dự một cuộc hội thảo trên biển, tôi may mắn cùng dịch giả, nhà văn Thái Bá Tân và cố nhà thơ Phạm Hổ cùng hơn 300 nhà thơ đến từ nhiều đất nước châu Âu và cả Mỹ, lênh đênh trên con tàu lớn của Hy Lạp, đi từ Địa Trung Hải, vào biển Êgiê, băng qua Hắc Hải… đến với các hải cảng của mấy nước nằm quanh Hắc Hải như Ođetxa của Ukraina, Kônxtanta của Rumani, Varna của Bungari, Istanbul và Izmia của Thổ Nhĩ Kỳ… và 9 đêm lênh đênh trên biển là 9 cuộc hội thảo về thơ bất tận.

Lần ấy, do trình độ tiếng Anh còn hạn chế, tôi chỉ làm được vài việc nhỏ, trong đó tôi muốn truyền đạt đến các đồng nghiệp Âu - Mỹ cái hay của thơ lục bát Việt Nam. Và tôi đã chọn bài thơ "Ngậm ngùi", một kiệt tác của nhà thơ Huy Cận để minh họa cho ý mình. Thoạt đầu, tôi đọc diễn cảm bài thơ, đoạn, tôi ngâm theo thể ru con và cuối cùng hát. Bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy phổ bài thơ này… Và điều tôi muốn chuyển tải đến cho các bạn đồng nghiệp quốc tế là vẻ đẹp của tiếng Việt và đặc thù của thể thơ truyền thống thuần túy Việt Nam và đậm chất phương Đông. Có vẻ như các bạn quốc tế thích thú vì âm hưởng phong phú của tiếng Việt "nói thì như ngâm thơ, ngâm thơ thì như hát…" nên có mấy bạn nhà thơ nữ (Ba Lan thì phải) còn thích thú xin phép tôi ghi âm lại và… phát trên đài phát thanh của họ… Chẳng biết rồi họ có làm thế không, nhưng sự lay động của thơ Việt ở đây đã chứng minh cho điều tôi nói ở trên về sức truyền cảm nằm ngoài ngữ nghĩa của thơ, vì đơn giản tôi không có bản dịch bài thơ này ra tiếng Anh và dĩ nhiên mọi người không biết đích xác nội dung nó nói cái gì…

Thơ để đọc và thơ để nghe giống và khác nhau là như thế đấy.

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).