Thân phận nữ y tá người Mỹ da đen trong Thế chiến II

Những ngày cuối cùng của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, 371.683 tù binh Đức Quốc xã bị bắt ở châu Âu và Bắc Phi được chuyển đến Mỹ và được giam giữ tại 600 trại giam trên khắp nước Mỹ. Phụ trách việc chăm sóc sức khỏe cho họ là 900 nữ y tá người Mỹ da đen trong tổng số 59.000 nữ y tá thuộc quân đội Mỹ.

Và bởi vì là người da đen nên những nữ y tá nói trên phải sống trong những khu vực riêng. Bệnh viện nơi họ công tác cũng không hề có y tá da trắng. Do kỳ thị chủng tộc, cư dân ở những vùng xung quanh trại giam xem họ là tầng lớp hạ đẳng. Ngay cả tù binh Đức - tất cả đều là da trắng - đôi lúc cũng biểu lộ sự khinh miệt với y tá da đen dù rằng hàng ngày, tù binh vẫn được những người này tiêm thuốc, thay băng, tắm rửa...

1. Ngày làm việc của nữ y tá Marie Collins tại bệnh viện trại giam Papago Park, bên ngoài thành phố Phoenix, bang Colorado bắt đầu từ 6 giờ sáng. Sau khi ăn vội bữa điểm tâm trong khu vực dành riêng cho y tá da đen, Marie tiến hành đo thân nhiệt, huyết áp cho 40 tù binh Đức - là số người mà cô chịu trách nhiệm theo dõi. 

Chăm sóc sức khỏe cho tù binh Đức Quốc xã là nhiệm vụ thường ngày của y tá người Mỹ da đen.
Chăm sóc sức khỏe cho tù binh Đức Quốc xã là nhiệm vụ thường ngày của y tá người Mỹ da đen.

Tiếp theo, Marie hỏi han tình hình bệnh tật của từng cá nhân và những triệu chứng họ đang gặp phải. Tất cả những thông tin ấy được Marie ghi chép vào một cuốn sổ lớn để đến 7 giờ, cô trình cho y tá trưởng cũng là người da đen. 8 giờ, y tá trưởng trình lên quản trị viên người da trắng và cuối cùng là bác sĩ điều trị để vị bác sĩ này hoặc kê đơn thuốc, hoặc hướng dẫn cách xử lý.

Marie chỉ là 1 trong 900 nữ y tá da đen thuộc quân đội Mỹ bị điều động đến làm việc tại những trại giam giữ tù binh chiến tranh trên đất Mỹ.

Theo các điều khoản quy định trong Công ước Geneve, tù binh ngoài chế độ ăn uống, thư tín, báo chí, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, họ còn được hưởng quyền chăm sóc sức khỏe nếu bị thương hoặc đau ốm. Và bởi vì hàng chục triệu người Mỹ phải gia nhập quân đội hoặc làm việc trong những nhà máy, công xưởng cùng các ngành công nghiệp khác để phục vụ chiến tranh, dẫn đến sự thiếu hụt lao động nghiêm trọng nên việc chăm sóc sức khỏe tù binh được giao cho các nữ y tá da đen.

Một số khác làm việc tại các quân y viện mà thương bệnh binh cũng là lính da đen, trong lúc các nữ y tá da trắng được ưu tiên công tác tại các quân y viện, nơi bệnh nhân chỉ toàn lính da trắng. Marie nói: "Chúng tôi bị buộc phải sống cách biệt với cộng đồng da trắng. Nơi ở của chúng tôi luôn có một tấm biển với dòng chữ "Colored - Da màu". 

Nhà ăn của chúng tôi được xây dựng riêng, thậm chí giặt giũ quần áo cũng phải giặt riêng. Các buổi giao ban chuyên môn chúng tôi không được dự. Nói chung, chúng tôi không phải là người Mỹ dù chúng tôi đã có quyền công dân Mỹ…".

2. Không phải chỉ đến khi Thế chiến II nổ ra, nữ y tá người Mỹ da đen mới bị phân biệt đối xử mà trước đó, năm 1917, khi nước Mỹ chính thức tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ I, các y tá người Mỹ da đen đã rất gian nan để "xin được phục vụ đất nước". 

Tất cả hồ sơ nộp vào Quân đoàn Y tá Quân đội Mỹ - United States Army Nurse Corps - đều bị loại bỏ bởi màu da của họ. Một số ít may mắn được chấp thuận nhưng không phải vì Quân đoàn Y tá Quân đội rộng lượng với họ mà vì trận đại dịch cúm đầu năm 1918 đã quét sạch hàng chục nghìn người - trong đó có khá nhiều những nữ y tá da trắng làm việc tại các bệnh viện dã chiến nên Quân đoàn Y tá Quân đội cần có thêm người để bổ sung.

 Theo những ghi chép của nữ y tá da đen Grabiel Woods còn lưu giữ thì mặc dù được tuyển dụng với chức danh y tá, nhưng y tá da đen vẫn phải làm những công việc mà lẽ ra, nó là của hộ lý.

Nhiều thập niên sau - năm 1939 - khi Hitler xâm lược Ba Lan, châm ngòi cho Thế chiến II, nước Mỹ bắt đầu chuẩn bị để đối phó với chủ nghĩa Quốc xã lẫn chủ nghĩa Quân phiệt Nhật Bản thì Quân đoàn Y tá Quân đội cũng mở rộng quy trình tuyển dụng. 

Thế nhưng, cũng như hồi Thế chiến I, khi hàng nghìn y tá da đen viết những lá đơn tình nguyện, bày tỏ nguyện vọng muốn phục vụ đất nước thì họ lại nhận được thư trả lời của Quân đoàn Y tá Quân đội, trong đó có đoạn: "Đơn của bạn không thể được xem xét vì không có quy định nào trong các quy định của quân đội, cho phép tiếp nhận y tá da màu vào Quân đoàn". 

Theo nữ y tá Cynthia Norris, đó là sự sỉ nhục vì Quân đoàn Y tá Quân đội đã không đánh giá trung thực về y tá người da đen mặc dù trong quá trình đào tạo, họ được học giống như người da trắng và khả năng chuyên môn cũng không thua gì y tá người da trắng.

3. Ngược dòng thời gian, kể từ ngày 19-6-1862, khi Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ là Abraham Lincoln ký tuyên ngôn giải phóng nô lệ, trao quyền bình đẳng cho người da đen thì dù trải qua hàng trăm năm, nhưng sự phân biệt đen, trắng - được gọi là "Luật Jim Crow" vẫn hiện diện tràn ngập trong lối sống và văn hóa Mỹ, kể cả quân đội.

Nguồn gốc của Luật Jim Crow bắt đầu từ năm 1865, 3 năm sau ngày Tổng thống Abraham Lincoln tuyên bố giải phóng nô lệ. Nó kéo dài cho mãi đến năm 1968 mới chấm dứt bởi những cuộc biểu tình dưới sự lãnh đạo của mục sư da đen Martin Luther King. Luật Jim Crow quy định các điều khoản để biến những công dân Mỹ da đen trở thành nô lệ một cách hợp pháp. 

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật ở các bang miền Nam - là những bang ủng hộ chế độ nô lệ - đã được sửa đổi để không một người da đen nào có thể thắng kiện nếu xảy ra kiện tụng vì theo Luật Jim Crow, chỉ có người da trắng mới được làm cảnh sát và thẩm phán. 

Bên cạnh đó, cũng ở những bang miền nam, chính quyền còn làm ngơ trước sự ra đời và hoành hành của tổ chức phân biệt chủng tộc 3K (viết tắt của cụm từ Ku Klux Klan). Khi màn đêm buông xuống, nhiều nhóm 3K tiến hành đốt phá nhà cửa, ruộng vườn của người da đen, hãm hiếp phụ nữ, thiêu sống những ai dám chống lại họ nhưng hầu như không một thành viên 3K nào phải ra tòa. Còn nếu có ra tòa chăng nữa, hoặc họ được tha bổng vì lý do "tự vệ chính đáng", hoặc nếu có đi tù thì án tù của họ cũng không hề tương xứng với tội ác mà họ đã gây ra.

Vì thế, năm 1908, các y tá người Mỹ da đen đã cùng nhau thành lập một tổ chức, gọi là "Hiệp hội Quốc gia về màu sắc Y tá - viết tắt là NACGN". 

Khi Thế chiến II nổ ra, dưới áp lực của các chính trị gia người da trắng - là những người ủng hộ việc giải phóng nô lệ cùng nhiều tờ báo tiến bộ, cuối cùng Quân đoàn Y tá Quân đội miễn cưỡng tuyển mộ 56 y tá da đen nhưng tất cả đều được gửi đến một bệnh viện biệt lập ở miền nam nước Mỹ. 

Đến năm 1944, vẫn chỉ có 300 phụ nữ da đen phục vụ trong đơn vị này so với 40.000 y tá da trắng. Nữ y tá Connie Foster kể: "2/3 trong số chúng tôi làm việc tại các trại giam giữ tù binh. Ở trại Papago Park, một hôm có một tù binh Đức Quốc xã là Carl Wilhelm tuyên bố thẳng thừng rằng anh ta "không ưa lũ mọi đen". Bị xúc phạm, tất cả chúng tôi làm đơn khiếu nại, gửi bệnh viện trưởng nhưng Carl Wilhelm không hề bị bất kỳ một hình phạt nào. Đó là sự sỉ nhục tồi tệ và cay đắng nhất vì mặc dù đã bị bắt làm tù binh, nhưng lính Đức vẫn không xem chúng tôi là người…".

Vẫn theo nữ y tá Connie, ở quân y viện nơi cô làm việc, y tá da đen không được phép tham dự các cuộc họp chuyên môn với các sĩ quan bác sĩ da trắng. Tất cả mọi báo cáo về tình hình bệnh nhân đều phải thông qua một quản trị viên người da trắng. Điều tệ hại hơn cả là ở các bệnh viện dành cho lính Mỹ da đen, việc chăm sóc y tế đôi lúc còn thua cả tù binh Đức Quốc xã. 

Một lớp huấn luyện y tá người Mỹ da đen của Quân đoàn Y tá Quân đội.
Một lớp huấn luyện y tá người Mỹ da đen của Quân đoàn Y tá Quân đội.

Connie nói: "Các sĩ quan bác sĩ trong bệnh viện thường có thái độ thân thiện với tù binh Đức, có lẽ vì họ đều là người da trắng. Họ thường xuyên tổ chức những buổi ăn nhậu, ca hát, còn chúng tôi phải ở trong những căn nhà lắp ghép tạm bợ, cách biệt hẳn với khu cư xá sĩ quan". 

Nữ y tá Nadia Worthrop, làm việc tại một trại tù binh ở bang Texas cho biết lính bảo vệ trại giam người da đen không được phép bước vào phòng ăn của lính bảo vệ da trắng, nhưng một số tù binh Đức Quốc xã lại có thể ngồi ăn chung, uống chung với bảo vệ da trắng: "Thoạt đầu, đối với chúng tôi thì đó là điều bất bình thường nhưng rồi nó trở nên bình thường vì hầu như ngày nào chúng tôi cũng phải chứng kiến…".

Không chỉ ở Mỹ, mà ở Anh, Pháp, một số đơn vị nữ y tá người Mỹ da đen được gửi sang làm việc trong các trại giam giữ tù binh cũng phải chịu cảnh phân biệt chủng tộc. Giáo sư Matthias Reiss, giảng viên cao cấp môn Lịch sử tại Đại học Exeter, Anh quốc nói: "Với những y tá Mỹ da đen, làm việc trong các trại tù binh là nhiệm vụ hạng 2. Họ bị cô lập, sống cô đơn với những người cùng màu da, cùng cảnh ngộ. Đã vậy, chế độ lương bổng dành cho họ cũng thấp hơn y tá da trắng". 

Adam Clayton Powell Jr., dân biểu Hạ nghị viện Mỹ, Bộ trưởng Bộ đặc biệt Harlem (là khu vực đông người da đen nhất ở thành phố New York), đã nói trước Hạ viện Mỹ ngày 7-3-1945: "Hoàn toàn không thể tin được rằng trong những lúc như thế này, khi cả thế giới đều hướng đến sự bình đẳng chủng tộc thì vẫn có những nhà lãnh đạo của chúng ta, những người lạc hậu, mù quáng và vô lý đến mức bắt buộc lính Mỹ bị thương phải đối mặt với cái chết hơn là cho phép các y tá được quyền trợ giúp chỉ vì màu da của các y tá ấy…".

4. Khi Thế chiến II bước vào những tháng cuối cùng, số lính Mỹ bị thương tăng vọt bởi những trận đánh đẫm máu với Quân đội Nhật ở mặt trận Thái Bình Dương, gây ra một sự khủng hoảng trầm trọng về nguồn nhân lực y tá trong các quân y viện. Vì thế, 9.000 y tá da đen được Quân đoàn Y tá Quân đội tuyển dụng. Tuy nhiên 3/4 trong số họ vẫn phải phục vụ trong những bệnh viện dành cho lính Mỹ da đen, hoặc các trại tù binh. Khi chiến tranh kết thúc, họ bị sa thải nên con số 9.000 người chỉ còn lại 500 người - chiếm 0,8% - so với 50.000 y tá da trắng trong Quân đoàn Y tá Quân đội.

Ngày 26-7-1948, Tổng thống Mỹ Truman ký ban hành một sắc lệnh, nội dung tất cả y tá là người Mỹ da đen đều được hưởng quyền bình đẳng với các y tá da trắng trong Quân đội Mỹ nhưng theo các nhà phân tích chính trị, hành động này là quá muộn, nhất là với những y tá da đen đã từng phục vụ trong Thế chiến II. 

Y tá Marie Collins, người đã làm việc tại bệnh viện trại giam Papago Park nói: "Không gì có thể bù đắp được thiệt thòi mà chúng tôi đã phải gánh chịu. Chỉ hy vọng rằng những thế hệ người Mỹ da màu tiếp theo có quyền ngẩng cao đầu tự hào về những gì mà những người đi trước đã cống hiến, và nhận được sự sẻ chia của xã hội bởi xét cho cùng, dù là da đen hay da trắng, máu của chúng tôi đều có màu đỏ…".

Bây giờ, sau 70 năm, kể từ khi Tổng thống Truman ban hành sắc lệnh bình đẳng giữa y tá người Mỹ da đen với y tá da trắng, các y tá người Mỹ da đen đã  chiếm 17% trong Quân đoàn Y tá Quân đội, và Tổng tham mưu trưởng của Quân đoàn hiện nay là nữ Trung tướng Nadja West, người da đen đầu tiên nắm giữ chức vụ cao cấp này…

Vũ Cao (theo War History)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.