Tết quê đầu tiên sau 5 năm biền biệt đón tết chiến trường

Tôi đi phép từ chiến trường K về quê ăn Tết sau 5 năm xa nhà bằn bặt. Bằn bặt, bước chân tôi đi cùng đồng đội từ thuở binh nhì ở Thanh Hóa, rồi vào Sài Gòn, ra biên giới Tây Nam, sang chiến trường Campuchia, rồi trở thành sĩ quan thì cũng trôi bẵng đi 5 năm tuổi thanh xuân. Nhưng tại sao đất nước thống nhất từ ngày 30/4/1975, mà sau 5 năm mới được về nhà?

1. Là vì chúng tôi nhập ngũ vào những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, thì các năm sau đó cái suất đi phép về nhà sum họp phải dành cho những sĩ quan lâu năm, hoặc “thượng sĩ Đông Dương”… đánh nhau liên miên ở chiến trường, có người xa nhà tới 10 năm. Lính tráng chưa hết nghĩa vụ chưa đến lượt đi phép, nhưng chưa kịp ra quân thì năm 1977 chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, tình hình bắt đầu căng thẳng, sang năm 1978 thì khốc liệt vô cùng, chiến tranh cuốn chúng tôi đi chẳng được về nhà.

Không chỉ mình tôi, mà còn vài chục người cùng làng, mấy trăm người cùng huyện nhập ngũ cùng ngày, cùng đơn vị, cùng tham gia cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và sang chiến trường Campuchia cũng trên hành trình gió lốc ấy.

Tết quê đầu tiên sau 5 năm biền biệt đón tết chiến trường -0
Cảnh tàu xe ngày Tết thời bao cấp.

Được về phép vào đúng dịp Tết Nguyên Đán sau một năm ở chiến trường K thì không mấy người được cái may mắn ấy. Ngồi trên thùng xe tải về nước, chúng tôi náo nức chỉ mong nhanh nhanh đến cửa khẩu Mộc Bài - Tây Ninh. Lúc chuyện trò nổ như pháo rang, lúc trầm lắng và buồn vui lẫn lộn. Chả biết sao, lúc đó tôi hỏi cả bọn trên xe:

“Về đến nhà, việc đầu tiên chúng mày làm gì?”.

Đứa thì nói:

“Tao sẽ hét toáng lên ở cổng: U ơi!... ơi… Con đã về!”.

Đứa lại bảo:

“Tao thì cứ về đến đầu làng, gặp đứa con gái nào đầu tiên, là hôm sau tao bảo thầy u tao đến hỏi vợ cho tao”.

Có đứa diễn đạt ề à:

“Tao sẽ xuống tàu ở ga Ninh Bình, tạt vào Trường Trung cấp Tài chính ở Kì Vĩ lấy xe đạp của em gái phóng về nhà. Nhân tiện xem mặt con bé cùng học với em tao, nó viết thư cứ khen con bé ấy xinh xắn và ngoan hiền”.

Một đứa cắt lời:

“Nó đang hỏi về đến nhà, việc đầu tiên mày làm gì, thì lại bảo đi xem mặt gái xinh cách nhà mấy chục cây số”.

Cả bọn cười ầm lên. Rồi có một đứa trầm ngâm nói:

“Tao sẽ tạt vào nghĩa địa ở đầu làng trước đã. Tao ngồi bên mộ u tao. Mộ u tao không biết đã xanh cỏ chưa?”.

Cả bọn lặng im. Một không khí buồn thoáng trên xe. Chúng tôi trầm hẳn, chùng lại, nghĩ mình được về quê, vui thì vui thật nhưng lại buồn vì đi cùng đợt đứa bị thương, đứa không bao giờ được về với mẹ, đứa vẫn còn đang đánh nhau Udon, ở Battambang, ở Poipet...

Bất chợt tôi bảo:

“Thế chúng mày không hình dung ra về đến nhà là buổi tối, hay buổi sáng, hay buổi trưa, hay nửa đêm a?”.

Xe lại ồn ào. Ồ. À. Mấy anh sĩ quan thời chống Mỹ đi phép các đợt trước, quay lại chiến trường K kể, bên nước mình kinh tế khó khăn, vật vã tàu xe mấy ngày mới ra đến Bắc. Nhưng, khó khăn thì kệ khó khăn, về lúc nửa đêm hay buổi sáng cũng được, miễn là nhanh nhanh về nhà.

Xe dừng lại ở cửa khẩu Mộc Bài trình giấy tờ. Quan cũng như lính phải trình giấy tờ hết, không giấy công tác thì cũng giấy đi phép. Kiểm soát quân sự bên mình và nước bạn đeo băng đỏ yêu cầu tất cả chúng tôi xuống xe. Gọi là kiểm tra quân tư trang, nhưng thực ra là khám xe, khám người. Xe nào cũng khám, người nào cũng khám. Đó là quy định bắt buộc. Đã là quân nhân thì phải chấp hành 12 điều kỉ luật của quân đội, trong đó có điều thứ nhất: “Không lấy cái kim sợi chỉ của dân”.

Dân ở đây là dân Khmer nước bạn nên kỉ luật dân vận càng nghiêm khắc. Vẫn biết là cán bộ chiến sĩ tự giác chấp hành, trong vườn hoang xoài, vú sữa lúc lỉu, thốt nốt đã đến lúc ngọt nước…, nhưng hầu như không ai dám động đến một quả. Chỉ đến khi chính quyền nước bạn cho phép thu hái tại chỗ thì lính tráng chúng tôi mới dám bứt ăn. Quân lệnh như sơn, đơn vị tôi có thằng anh nuôi lấy hai hộp kem đánh răng Hynos có in ảnh anh thanh niên da đen răng trắng nhởn giấu trong ba lô, kiểm tra quân tư trang hàng tuần bị phát hiện mà bị đứng trước hàng quân tước quân tịch đưa về nước, giao cho địa phương. Thằng nào cũng sợ xanh mắt, tự giác vẫn phải phòng ngừa, cảnh giác, kiên quyết ngăn chặn vi phạm kỉ luật dân vận. Cho nên, về đến tận cửa khẩu Mộc Bài mà vẫn phải mở nắp ba lô, túi cóc, quần áo, võng… lấy ra chờ kiểm tra.

Xe ô tô cũng được kiểm tra thật kĩ. Đoàn chúng tôi, đứa nào sĩ quan kè kè khẩu súng ngắn K54 kèm theo đạn, thì đều có giấy phép. Rất may, chẳng có đứa nào mang lựu đạn mỏ vịt phòng thân theo người. Vàng, bạc, hay thuốc lá Smit-N*14 càng không có đứa nào mang theo…, chứ bị lập biên bản, rồi giữ lại xe và người thì rầy rà to.

2. Vật vã ba ngày trên tàu thống nhất Bắc - Nam, cuối cùng chúng tôi cũng ra Bắc. Có đứa xuống ga Vinh, hoặc ga Thanh Hóa, có đứa xuống ga Nam Định hoặc xuống ga Hà Nội cuối cùng. Khi gần đến ga Gành, chẳng hiểu sao tàu thở hồng hộc, chạy rất chậm, chắc là tàu tránh nhau hay đầu máy hơi nước trục trặc. Tôi và mấy anh em Ninh Bình tống ba lô qua cửa sổ tàu rồi nhao nhao nhảy xuống. Nhảy xuống rồi đi bộ về nhà, đứa ngắn được cũng bốn, năm cây số; tôi và anh Thúy phải khoác ba lô cuốc bộ 12 cây số, về đến đầu làng thì cũng 10 giờ đêm. Trước khi rẽ về nhà, anh Thúy bảo tôi:

“Mày không được nói ngay với ai là tao về phép nhé”.

“Ủa. Sao vậy? Em tưởng là phải hét toáng lên để cho cả xóm đến mừng chứ”.

“Không. Tao sẽ lặng lẽ về nhà ôm vợ ngủ đêm nay, cả ngày mai cũng đóng cửa ôm nhau ngủ. Ngày kia tính sau”.

Thì ra, việc đầu tiên về nhà của anh Thúy là… ôm vợ ngủ. Cái điều mà anh khao khát, chứa chất trong lòng bao nhiêu tháng năm trận mạc ở biên giới Tây Nam, ở chiến trường K, rồi cả khi tạm buông tay súng trở về anh không nói ra, để bây giờ vỡ òa, thành hiện thực.

Tôi bước vào ngõ nhà mình. Không như cái đứa đi cùng xe hét toáng lên: “U ơi!... ơi… Con đã về!”. Đêm quê nhà thanh vắng, tôi nhìn lên cây ổi nhà mình. Cây ổi được mẹ tôi đeo khăn tang cho nó lúc ông nội tôi mất. Vẫn thế, cây ổi không lớn thêm tí nào và cũng không già đi, dù 5 năm đã qua nó không già hơn được nữa. Nó cỗi rồi. Cỗi nhưng vẫn chắt chiu dinh dưỡng mỗi mùa ổi ra hoa kết được vài chục quả cho bọn trẻ con chúng tôi trèo hái. Cha tôi không nỡ chặt bởi thời ấu thơ cha tôi cũng từng trèo hái. Tôi ngồi xuống cầu ao như ngày nào chưa nhập ngũ vẫn ngồi nghe tiếng cá quẫy. Đêm ấy, cá không quẫy và mặt nước mùa đông im lìm.

Cái cầu ao tôi vẫn ngồi câu cá, ngồi nhìn trăng soi bóng nước. Tôi bước vào sân nhà mình, tôi thả gầu xuống giếng khơi múc nước rửa mặt. Nước lạnh làm tôi tỉnh táo hẳn ra, kéo tôi thoát ra khỏi cơn mộng mị đi như mê trong vườn nhà mình. Tôi vẫn khoác ba lô, và ngồi thừ ra ở hiên nhà mình. Vậy là tôi đã đi từ nhà rong ruổi từ Bắc vào Nam, ra chiến trường xa bằn bặt gần 2.000 ngày, rồi lại trở về nơi tôi đã ra đi. Vẹn nguyên, không hề sướt sát.

Trong nhà mẹ tôi ho húng hắng, rồi cất tiếng gọi với sang giường bên kia:

“Ông ơi! Hình như thằng San nó về”.

Tiếng dát giường kêu, và cha tôi bật công tắc điện. Đến nước này thì tôi bật kêu lên: “Thầy ơi! U ơi! Con đã trở về”… từ hiên nhà mình. Cửa mở, tôi nhào vào ôm chầm lấy mẹ. Khỏi phải nói nỗi vui mừng của thầy u tôi được thấy đứa con lành lặn trở về. Dạo ấy, cả nước vẫn còn đốt pháo đón xuân, đứa cháu tôi đang học cấp 3 vào cót thóc moi bánh pháo mua để dành lúc giao thừa đem ra đốt mừng chú trở về. Cha tôi bảo: “Nhà mình bom đạn tránh người. Mừng thì mừng thật, nhưng phải lặng lẽ ý tứ với hàng xóm có người ra trận không về, cháu ạ”. Anh cả tôi quát con: “Ông nói rồi. Cất ngay đi. Có biết bây giờ là nửa đêm không? Có biết đằng sau nhà mình, chú Đang nhà bà Hiệp mới báo tử không?”. Chú Đang ít hơn tôi vài tuổi, lúc còn bé ở nhà vẫn chơi khăng đánh cù, đi mò cua bắt cá cùng nhau. Chú nhập ngũ sau tôi, vào chiến trường K được vài tháng thì chú hy sinh.

Những ngày áp Tết, tôi đạp xe rong ruổi trên đường đem thư của những đứa cùng đơn vị không được về ăn Tết đưa đến tận nhà, và đến thăm bố mẹ mấy đứa cùng đơn vị hi sinh. Đêm về, nằm trằn trọc không ngủ nghe tiếng gầu sòng bì bọp đổ nước tát ao bắt cá ăn Tết. Lại nhớ tiếng sóng vỗ trên sông Bassac, và cái bãi bồi ở ngoại ô Phnom Penh có trận địa pháo anh Hậu con bác họ tôi làm pháo thủ số 2 hy sinh trong một đêm bọn tàn quân Pol Pot tập kích… 

Ngoảnh đi ngoảnh lại thì ngày cuối năm đã đến. Tôi đi chợ Bút sắm Tết cùng với mẹ và chị dâu. Đang lúi húi chọn lá dong mua về nấu bánh chưng thì lại gặp bà Thuyết, chồng bà làm lò rèn. Nước mắt chảy dài, bà lại hỏi tôi: “Lúc đi thì có anh có em. Lúc về, sao anh không dẫn em nó cùng về?. “Em nó” là thằng Thạch sinh sau tôi một năm. Chán quai búa cho bố rèn dao kéo cuốc xẻng, nó khai tăng tuổi và nhét hai hòn đá vào hai túi quần, còn uống nước lã no bụng mới đủ cân nhập ngũ. Thạch ở đại đội công binh, đơn vị nó đi truy quét tàn quân Pol Pot, bị phục kích và hi sinh. Đây là lần thứ hai gặp bà, và vẫn câu hỏi lần trước: “Sao anh không dẫn em nó cùng về?” mà tôi không trả lời nổi.

Đêm Giao thừa năm ấy.

Tôi cầm đèn pin và đồ lễ, cha tôi xách đèn chai ra miếu đầu thôn lễ thổ thần. Lúc trở về nhà thì cũng đến khoảnh khắc chuyển giao năm cũ - mới đúng lúc mưa xuân lây phây rắc bụi. Cây trong vườn nhà ướt lấp loáng bắt ánh đèn. Cả nhà tôi xôn xao, cả làng tôi xôn xao đón mùa xuân mới về. Có tiếng mở đài cọt kẹt, giọng hát da diết vang lên: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ Mùa bình thường mùa vui nay đã về/ Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên.../ Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ Người mẹ nhìn đàn con nay đã về”. Tôi quay lại bảo đứa cháu đang cầm cái radio, mặt mày hớn hở: “Mở đài nhỏ thôi cháu ạ”. Tôi cảm thấy lòng man mác, rồi bâng khuâng, rồi lại nôn nao buồn vui, bao nhiêu trạng thái cảm xúc chợt đến thoắt đi.

Từ đó, bao nhiêu năm tôi ăn Tết ở quê nhà, ở thành phố, nhưng chưa bao giờ ám ảnh như cái Tết đầu tiên từ chiến trường ra.

Nguyễn Yên Mô

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?