Tạo đột phá về chuyển đổi số, quản lý dân cư

Dự án Luật Căn cước do Bộ Công an chủ trì xây dựng sẽ được Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5 tới đây. Dự án Luật đã nhận được sự ủng hộ, đồng tình rất lớn của dư luận, là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện, tạo bước đột phá về chuyển đổi số, quản lý dân cư.

Báo CAND có cuộc trò chuyện với Thiếu tướng Phạm Công Nguyên, Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an liên quan đến những nội dung và tác động tích cực của dự án Luật.

PV: Thưa Thiếu tướng, xin đồng chí cho biết 4 nội dung cơ bản của dự thảo Luật Căn cước?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Trên cơ sở tiếp tục kế thừa các nội dung của Luật Căn cước công dân năm 2014 đang còn phù hợp với thực tiễn, dự thảo Luật Căn cước được Bộ Công an chủ trì xây dựng với 4 nhóm chính sách đã được Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, đó là: Quy định việc tích hợp thông tin khác ngoài thông tin trong Cơ sở dữ liệu (CSDL) căn cước công dân vào thẻ căn cước; thẻ căn cước có giá trị sử dụng để cung cấp thông tin về công dân và tương đương việc xuất trình các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp có thông tin đã được in hoặc tích hợp trong thẻ căn cước. Bổ sung thông tin lưu trữ trong CSDL quốc gia về dân cư, CSDL căn cước. Bổ sung đối tượng được cấp thẻ căn cước và đối tượng được cấp giấy chứng nhận căn cước.

Tạo đột phá về chuyển đổi số, quản lý dân cư -0
Thiếu tướng Phạm Công Nguyên.

Hoàn thiện quy định về quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thông tin trong CSDL quốc gia về dân cư, CSDL căn cước công dân; tài khoản định danh điện tử (CCCD điện tử) và việc sử dụng tài khoản định danh điện tử; cấp, xác lập lại số định danh cá nhân; quy định về việc sử dụng thống nhất thẻ căn cước và việc hạn chế phát sinh thủ tục hành chính có liên quan.

PV: Trong dự thảo Luật Căn cước, thông tin trên thẻ căn cước sẽ có những thay đổi gì?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Theo quy định tại dự thảo Luật thì thông tin trên bề mặt thẻ căn cước sẽ có một số thay đổi. Theo đó, tại Điều 19 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ in vân tay trên mặt thẻ, dòng chữ "Căn cước công dân" trên mặt thẻ thay bằng "Thẻ Căn cước"; "Quê quán" thay bằng "Nơi đăng ký khai sinh"; "Nơi thường trú" thay bằng "Nơi cư trú"; "Chữ ký của người cấp thẻ" thành dòng chữ "Nơi cấp: Bộ Công an".

Tuy nhiên, chúng tôi khẳng định những thay đổi đó sẽ không có bất cứ ảnh hưởng nào tới quá trình tham gia các thủ tục hành chính của người dân.

PV: Theo đồng chí, những thay đổi này có ý nghĩa như thế nào trong thực tiễn quản lý dân cư?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Việc thay đổi, cải tiến như trên để tạo thuận lợi hơn cho người dân trong quá trình sử dụng thẻ căn cước, hạn chế việc phải cấp đổi thẻ căn cước và bảo đảm tính riêng tư của người dân. Các thông tin căn cước của người dân cơ bản sẽ được lưu trữ, khai thác, sử dụng thông qua chip điện tử trên thẻ căn cước. Đơn cử như việc chỉnh lý thông tin "nơi thường trú" thành "nơi cư trú" in trên thẻ căn cước là để phù hợp với thực tiễn vì nhiều người hiện nay chỉ có nơi tạm trú, nơi ở hiện tại hoặc không có nơi thường trú, nơi tạm trú. Với quy định này thì với tất cả người dân Việt Nam đều sẽ đủ điều kiện để được cấp thẻ căn cước; đều được bảo đảm quyền lợi khi có được giấy tờ tuỳ thân để thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch dân sự theo nhu cầu. Việc cấp đổi thẻ căn cước khi có thay đổi thông tin về nơi cư trú được thực hiện theo nhu cầu của người dân (không bắt buộc).

PV: Dự thảo luật đã quy định về việc tích hợp một số thông tin có tính ổn định ngoài thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như thẻ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe… Quy định này sẽ đem lại những lợi ích gì cho cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Đây là một trong bốn chính sách xây dựng Luật và với việc quy định về tích hợp một số thông tin ngoài thông tin trong CSDL căn cước vào thẻ căn cước là để cụ thể hoá nhiệm vụ tại Đề án số 06, nhằm phục vụ mục tiêu đơn giản hoá giấy tờ, thủ tục cho người dân, hướng tới mục tiêu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, công dân số.

Việc tích hợp thông tin vào thẻ căn cước sẽ giúp cơ quan nhà nước giảm chi phí giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức khi sử dụng thẻ căn cước có gắn chip đã được tích hợp các thông tin có liên quan đến lĩnh vực mình quản lý; không phải chi cho hoạt động in, sản xuất các giấy tờ cấp cho người dân (nếu người dân không có nhu cầu hoặc chỉ cần bản điện tử của giấy tờ đó). Cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết thủ tục hành chính cho người dân sẽ cập nhật, bổ sung kết quả giải quyết vào cơ sở dữ liệu do mình quản lý và trả kết quả điện tử cho người dân. Cơ quan quản lý căn cước sẽ khai thác thông tin người dân trong các CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành để tích hợp thông tin người dân có trên các cơ sở dữ liệu này vào thẻ căn cước theo yêu cầu của cơ quan nhà nước hoặc đề nghị của người dân. Do vậy, cơ quan, tổ chức không phải tốn nhiều thời gian để kiểm tra, xác minh thông tin, giấy tờ do người dân cung cấp khi giải quyết các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ hành chính công; giảm nhân lực để giải quyết thủ tục hành chính và quản lý hệ thống hồ sơ giấy tờ của người dân; phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước.

Đối với tổ chức, doanh nghiệp và người dân, không phải tốn thời gian, công sức, chi phí để thực hiện việc trích lục, sao y, chứng thực, công chứng các loại giấy tờ của bản thân; giảm chi phí trong giải quyết các thủ tục hành chính, kê khai nhiều loại giấy tờ khác nhau...; không phải bảo quản, mang theo nhiều loại giấy tờ khác nhau khi cần sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch dân sự hay các hoạt động khác cần phải xuất trình giấy tờ cá nhân.

Trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân không đầu tư thiết bị chuyên dụng để đọc thông tin tích hợp trong thẻ căn cước thì có thể lựa chọn các cách thức khác để khai thác thông tin của người dân (bao gồm cả thông tin tích hợp) qua kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trong CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành, khai thác qua cổng dịch vụ công… (đây là cách phổ biến, tiết kiệm, sẽ phát triển, mở rộng trong thời gian tới).

PV: Còn về đề xuất cấp căn cước cho người dưới 14 tuổi theo yêu cầu, đề xuất này cũng tiết kiệm rất lớn chi phí cho ngân sách nhà nước so với các quy định hiện hành, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Trong quá trình xây dựng luật, Bộ Công an đã rà soát, đánh giá và thấy rằng việc cấp thẻ căn cước cho người dưới 14 tuổi nếu thực hiện được thì sẽ giảm được các chi phí cho người dân và mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội khác.

Ví dụ như chúng ta không tốn chi phí trong cấp sổ tiêm chủng (10.000đ/sổ), sổ khám chữa bệnh (10.000đ/sổ/1 cơ sở y tế; trung bình 1 trẻ khám từ 2-3 cơ sở y tế), thẻ bảo hiểm y tế (5.000đ/thẻ/1 năm), thẻ học sinh (5.000đ/thẻ/1 năm học/người), chi phí … (với số công dân dưới 14 tuổi là 19 triệu người thì ước tính số tiền mà nhà nước và xã hội phải chi là khoảng 2.000 tỷ chỉ với một số ít giấy tờ liệt kê nêu trên). Ngoài ra, người dân còn tiết kiệm chi phí sao y, chứng thực, công chứng giấy tờ (từ 2.000đ-10.000đ/trang).

Trong khi đó, chi phí sản xuất 1 thẻ CCCD là 48.000đ; chi phí sản xuất thẻ CCCD cho các công dân dưới 14 tuổi (trường hợp tất cả 19 triệu người dưới 14 tuổi đều có nhu cầu cấp) là khoảng hơn 900 tỷ đồng. Chí phí cấp đổi, cấp lại cho người dưới 14 tuổi nếu bị mất, đổi theo nhu cầu do công dân thanh toán, không tốn ngân sách nhà nước. Do vậy, hiệu quả về lợi ích kinh tế - xã hội đem lại khi thực hiện quy định này là rất lớn.

PV: Dự thảo luật đã đưa chính sách cấp căn cước cho người gốc Việt Nam, người không có quốc tịch đang sống trên đất nước Việt Nam. Xin đồng chí cho biết ý nghĩa của chính sách này?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Chính sách này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý nhà nước được chặt chẽ; giải quyết được các vấn đề còn tồn tại liên quan đến yếu tố lịch sử, chiến tranh để quản lý, giải quyết bất cập trong công tác quản lý dân cư; bảo đảm cơ chế để họ có thể tham gia vào các giao dịch dân sự, dịch vụ công, nhất là các dịch vụ thiết yếu bảo đảm cuộc sống.

Mặt khác, việc cấp giấy chứng nhận căn cước và quản lý người gốc Việt Nam còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần bảo đảm quyền lợi của người gốc Việt Nam (trong đó bao gồm cả những trẻ em là con của người gốc Việt Nam), những người yếu thế trong xã hội (phần nhiều người gốc Việt Nam là người di cư, dân tộc thiểu số, người nghèo, người sinh sống trên địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa…). Từ đó, giúp quản lý được toàn bộ dân cư sinh sống tại địa phương; tạo thuận lợi cho công tác hoạch định chính sách phát triển xã hội; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

PV: Theo đồng chí, luật được ban hành sẽ có những tác động như thế nào trong việc xây dựng chính phủ số, công dân số?

Thiếu tướng Phạm Công Nguyên: Khi Luật Căn cước được thông qua và có hiệu lực thi hành sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện, tạo bước đột phá về chuyển đổi số ở nước ta và từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Căn cước công dân năm 2014, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, nhất là trong thực hiện Đề án số 06, xây dựng Chính phủ số, công dân số. Theo đó, Luật sẽ đáp ứng được các yêu cầu trong giải quyết thủ tục hành chính hiện nay và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến thiết yếu để phục vụ người dân, doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng xác thực, chia sẻ bằng CSDL quốc gia về dân cư để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Phục vụ việc nghiên cứu, triển khai việc ứng dụng các tính năng của chip điện tử trên thẻ căn cước đối với các lĩnh vực tài chính, ngân hàng và một số lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội khác. Tích hợp, phát triển các ứng dụng trên nền tảng hệ thống định danh điện tử với các ứng dụng cốt lõi như: Ví điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, chứng khoán, điện, nước… lên ứng dụng VNeID, mã QR của thẻ CCCD gắn chip điện tử. Phát triển, hoàn thiện và triển khai hiệu quả ứng dụng di động công dân số từ VNeID trên cơ sở mở rộng tích hợp các thông tin, dịch vụ như y tế, bảo hiểm, giấy phép lái xe, ngân hàng, thanh toán điện tử, ứng cứu khẩn cấp, phản ánh hiện trường, tố giác tội phạm…

Tạo điều kiện cho công dân xác thực các thông tin thiết yếu, quan trọng trên ứng dụng VNeID hoặc qua thẻ căn cước như: Thông tin tiêm chủng, xét nghiệm, giấy phép lái xe, đăng ký xe… từng bước thay thế các giấy tờ của người dân trong một số giao dịch theo quy định pháp luật. Cung cấp các dịch vụ công, dịch vụ thương mại phục vụ tiện ích số của công dân trên ứng dụng VNeID như: Dịch vụ cư trú, CCCD, thương mại điện tử, thanh toán điện tử và các dịch vụ khác.

Đảm bảo hiệu quả việc kết nối, chia sẻ giữa CSDL quốc gia về dân cư với các CSDL quốc gia khác, CSDL chuyên ngành đã có như: CSDL giáo dục, CSDL doanh nghiệp, CSDL thuế…, bảo đảm giải quyết các thủ tục phục vụ người dân chính xác và thuận lợi.

Với CSDL quốc gia về dân cư và các thông tin đã được tích hợp sẽ là cơ sở để tổng hợp, phân tích, dự báo các thông tin để phục vụ việc chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp, hoạch định chính sách kinh tế, xã hội.

PV: Xin cảm ơn đồng chí!

Nguyễn Hương (thực hiện)

Các tin khác

Sức mạnh của nhân dân- từ Điện Biên Phủ đến khát vọng vươn mình của dân tộc

Sức mạnh của nhân dân- từ Điện Biên Phủ đến khát vọng vươn mình của dân tộc

72 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, lịch sử không chỉ nhắc nhớ về một chiến công quân sự “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mà còn gợi mở một chân lý có giá trị xuyên thời đại: sức mạnh quyết định vận mệnh của dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chỉ nằm ở vũ khí hay tiềm lực vật chất, mà nằm ở lòng dân, ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc và ở ý chí độc lập, tự cường được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nhanh hơn, "xanh" hơn và bền vững hơn

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nhanh hơn, "xanh" hơn và bền vững hơn

Kinh tế Việt Nam được đánh giá là điểm sáng hiếm hoi trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và tăng trưởng toàn cầu chậm lại. Kinh tế Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ đất nước thống nhất đã đạt những thành tựu vượt bậc, mang lại nhiều lợi ích cho người dân thụ hưởng, cũng như khẳng định vị thế, tầm vóc đất nước trên trường quốc tế.

Bước chuyển mạnh của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Bước chuyển mạnh của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia ngày càng trở nên cấp thiết. Một trong những điểm nhấn nổi bật thời gian qua là việc Quốc hội từng bước chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế.

Giữ cho “trong ấm, ngoài êm”

Giữ cho “trong ấm, ngoài êm”

Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước (1945-1975) là một trong những chiến công chói lọi nhất của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước. Giành được những thành tựu, thắng lợi to lớn đó là sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó lực lượng CAND có sự đóng góp xứng đáng.

Tiếp nối ngọn lửa ngày Đại thắng, vững bước tới tương lai rạng rỡ

Tiếp nối ngọn lửa ngày Đại thắng, vững bước tới tương lai rạng rỡ

Đại thắng ngày 30/4/1975 không chỉ khép lại cuộc chiến tranh trường kỳ, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam. Đó là dấu mốc lịch sử không thể thay thế, là điểm tựa tinh thần để cả dân tộc bước vào hành trình kiến thiết, dựng xây đất nước trong hòa bình. Nhưng lịch sử chưa bao giờ dừng lại.

Nghị quyết của Quốc hội giải quyết hàng nghìn dự án đất đai khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài

Nghị quyết của Quốc hội giải quyết hàng nghìn dự án đất đai khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài

Hiện có 4.489 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc với tổng quy mô diện tích sử dụng đất hơn 198.428,1 ha và tổng giá trị mức đầu tư là 3,3 triệu tỷ đồng đã được các bộ, ngành, địa phương trong cả nước thống kê tính đến ngày 30/3/2025, nếu sớm được vận hành thì đây sẽ là nguồn lực rất lớn của nền kinh tế.

Nhiều nước trên thế giới đã thống nhất về giới hạn của bí mật nghề nghiệp

Nhiều nước trên thế giới đã thống nhất về giới hạn của bí mật nghề nghiệp

Bí mật nghề nghiệp của luật sư là một nguyên tắc cốt lõi của tư pháp hiện đại, nhưng không phải là giới hạn tuyệt đối. Khi tội phạm ngày càng được chuẩn bị tinh vi và có tổ chức, nhiều quốc gia đã thiết lập ranh giới rõ ràng: bảo vệ quyền bào chữa, nhưng không để nguyên tắc này bị lợi dụng để che chắn cho hành vi phạm tội. Đề xuất sửa đổi Bộ luật Hình sự của Việt Nam vì thế không nằm ngoài xu hướng chung đó.

Tăng cường trách nhiệm người bào chữa nhằm phòng ngừa tội phạm

Tăng cường trách nhiệm người bào chữa nhằm phòng ngừa tội phạm

Cơ quan soạn thảo đã đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng thu hẹp phạm vi miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với luật sư, người bào chữa nhằm cân bằng giữa đạo đức nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư với trách nhiệm bảo vệ an toàn xã hội và ngăn chặn tội phạm từ sớm, từ xa. 

Đảm nhiệm đồng thời hai chức danh – một bước đi tất yếu

Đảm nhiệm đồng thời hai chức danh – một bước đi tất yếu

Trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi điều chỉnh về tổ chức bộ máy đều nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả các cơ quan quyền lực nhà nước. Chỉ những thay đổi phản ánh đúng yêu cầu khách quan của việc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước mới có ý nghĩa bền vững.

Phát triển "kinh tế bạc" là mở ra một cách tiếp cận mới trong quản trị quốc gia

Phát triển "kinh tế bạc" là mở ra một cách tiếp cận mới trong quản trị quốc gia

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, phát triển "kinh tế bạc" càng trở nên cấp thiết. Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh ở châu Á. Theo dự báo, đến khoảng năm 2036, nước ta sẽ chính thức bước vào giai đoạn “xã hội già”, khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm trên 20% dân số.

Kiện toàn tổ chức bộ máy và kỳ vọng chương mới rực rỡ của đất nước

Kiện toàn tổ chức bộ máy và kỳ vọng chương mới rực rỡ của đất nước

Kiện toàn tổ chức bộ máy hôm nay mới là bước khởi đầu. Hành động quyết liệt, hiệu quả vì mục tiêu vừa kể mới là thước đo cuối cùng. Một khi lời nói đi đôi với việc làm, khi cam kết được hiện thực hóa bằng kết quả, thì niềm tin chắc chắn sẽ được củng cố, động lực chắc chắn sẽ được nhân lên; và con đường phía trước - dù còn nhiều thách thức, vẫn sẽ rộng mở để đất nước vững bước tiến lên, kiến tạo và viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hành trình phát triển.

Thống nhất vị trí người đứng đầu Đảng và Nhà nước tạo sự thông suốt trong tư duy lãnh đạo

Thống nhất vị trí người đứng đầu Đảng và Nhà nước tạo sự thông suốt trong tư duy lãnh đạo

Chiều 7/4, bên hành lang Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội đoàn TP Hà Nội Bùi Hoài Sơn đã trao đổi với Báo Tin tức và Dân tộc về việc Quốc hội bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031 và những kỳ vọng đối với việc nâng cao hiệu lực lãnh đạo, điều hành trong giai đoạn mới.

Kiên định “bốn nguyên tắc” góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững

Kiên định “bốn nguyên tắc” góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa XIV diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu chiến lược gắn với hai cột mốc lịch sử 2030 và 2045. Tại phiên bế mạc hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng, mang tính định hướng chiến lược, nhấn mạnh thực hiện tăng trưởng hai con số để “không lỡ nhịp với thời đại”: “Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất”.

Phải truy xuất được nguồn gốc của miếng thịt là yêu cầu cấp bách

Phải truy xuất được nguồn gốc của miếng thịt là yêu cầu cấp bách

Vụ việc 300 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi được tuồn ra thị trường, thậm chí vào các trường học đã gây bức xúc trong dư luận. Sự việc xảy ra cho thấy, đã có sự buông lỏng quản lý, “đứt gãy” trong cơ chế giám sát theo chuỗi, từ khâu kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và giám sát lưu thông.

Kiên định “bốn nguyên tắc” – Chìa khóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”

Kiên định “bốn nguyên tắc” – Chìa khóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”

Khi “Bốn nguyên tắc” được triển khai đồng bộ trong giáo dục và đào tạo, các nhà trường sẽ góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng CAND, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kiểm soát quyền lực - “then chốt của then chốt” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Kiểm soát quyền lực - “then chốt của then chốt” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Lịch sử phát triển của mọi Nhà nước đều cho thấy: quyền lực nếu không được kiểm soát sẽ có xu hướng bị tha hóa, và một khi quyền lực đã bị tha hóa thì hậu quả không chỉ dừng lại ở tham nhũng, tiêu cực, mà còn làm xói mòn niềm tin của nhân dân, suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.

Bài 2: Xăng sinh học - Đột phá chiến lược trong chuyển đổi xanh

Bài 2: Xăng sinh học - Đột phá chiến lược trong chuyển đổi xanh

Thay vì kế hoạch sẽ triển khai xăng sinh học E10 (pha trộn 10% ethanol) vào tháng 6/2026, Chính phủ đã quyết định đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng E10 ngay từ tháng 4/2026. Theo các chuyên gia, đây không chỉ là giải pháp tình thế trước những biến động của thị trường năng lượng thế giới, mà còn là một bước đột phá chiến lược trong chuyển đổi xanh. 

Giữ nghiêm kỷ cương để bảo vệ niềm tin và mở đường phát triển

Giữ nghiêm kỷ cương để bảo vệ niềm tin và mở đường phát triển

Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà còn là điều kiện nền tảng để giữ vững ổn định, củng cố niềm tin xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển đất nước.