Sống trên đất nước mình một đời chưa hết nợ

Nhanh quá đi mất. Vèo một cái nháy mắt đã tròn 40 năm (1979-2019) của cái thời: “Ở rừng thiếu thơ để đọc/ Chúng tôi làm thơ cho mình/ Từng câu chữ chưa tròn trịa/ Ra đời từ cuộc trường chinh”. 

Vừa chiến tranh Tây Nam, vừa chống bành trướng phương Bắc. Một dấu ấn xương máu mà chúng tôi đã góp phần bé nhỏ, rất bé nhỏ làm sao có thể lãng quên. Ấy vậy mà, dịp này, cá nhân tôi lại từ chối chương trình “Giai điệu tự hào”, không thể ra Hà Nội tham gia. Bởi lẽ, ngày này anh em cựu chiến binh cũng tổ chức một và nhiều cuộc gặp mặt đồng đội thuở chiến trường K. Nhìn nhau là thấy năm tháng xa xăm ấy quay ngược chiều kim đồng hồ.

Thương lắm

Năm mười tám tuổi. Đời sống bộ đội đã cho tôi một không khí mới, một hơi thở mới, một vòm trời mới. Sau ba tháng huấn luyện, chúng tôi được đưa lên Trung đoàn 29. Một địa danh mới: Darlak. Rừng núi trập trùng sương lạnh. Con đường 14B với bụi đỏ mù mịt và những tiếng mìn khô khốc, nổ đanh tai trong những lần truy quét dọc theo biên giới. Đó là lần đầu tiên chúng tôi biết đến sức công phá của loại mìn KP2. 

Người lính đạp chân xuống, quả mìn sẽ nhảy lên và nổ cắt ngang nửa người. Cái chết gần kề như một người đồng hành. Có người chạy về tuyến sau. Có người ở lại tuyến đầu. Đất nước nửa hòa bình, nửa chiến tranh. Một thế hệ sống giữa hai bờ hư thực.

Một thời nhớ mãi Tây Nam.
Một thời nhớ mãi Tây Nam.

Và chúng tôi đã làm thơ

Từ đâu có thơ? Câu hỏi ấy đặt ra không thừa. Có người cho rằng thơ đến từ một cõi nào đó của vô thức, ngay cả bản thân nhà thơ có thể không ý thức được. Nhưng ngay sau ngày giải phóng, đất nước còn bộn bề bao khó khăn, bao nhiêu chuyện cần phải làm ngay, thế hệ trẻ mới lớn không có thời gian ngồi trong bóng râm yên tĩnh để tranh luận về thơ. Bằng tất cả hồn nhiên, trong sáng và hào hứng của tuổi đời phơi phới, họ lên rừng xuống biển để hàn gắn những vết thương chiến tranh. Và ra chiến trường giữ đất.

Từ thực tế phong phú và đa dạng của đời sống, họ có thơ. Những bài thơ vạm vỡ sức sống mới mà bây giờ đọc lại, ta vẫn còn mường tượng ra tháng ngày họ đã sống.

Nói cách khác, những cảm xúc, những suy nghĩ của một thế hệ đã bàng bạc trong những vần thơ ấy. “Nếu anh chẳng tì vai vào khẩu súng/ Nòng thép lạnh đạn bắn ra thì nóng/ Đem đời mình đối diện với gian lao/ Chẳng bao giờ có tuổi trẻ của anh đâu” (Trần Hà Thanh). 

Người ta thường nói về tuổi hai mươi “ăn chưa no lo chưa tới” mà viết như thế, liệu có “lên gân” không? Không! Chính năm tháng ấy, chúng tôi đã sống như thế. Khi đất nước vừa mới hòa bình, lại tiếp tục bước vào cuộc chiến tranh thì chúng tôi đã già dặn hơn, trên vầng trán đã hằn những nếp nhăn. 

Tôi đổi nghìn câu thơ/ Để nếm mùi gian khổ/ Tôi đổi một cuộc đời/  Để lấy màu hoa đỏ/ Hai bàn tay thì nhỏ/ Tổ quốc rộng vô cùng/ Làm sao ôm hết được/  Một góc trời quê hương/ Nên đứng trước hố bom/  Thêm yêu màu hoa đỏ/ Sống trên đất nước mình/ Một đời chưa hết nợ” (Nguyễn Nhật Ánh). 

Những ngày tháng ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm tưởng, nhất là đọc những vần thơ đau đáu về hạt lúa: “Người ở lại vật lộn với đất/ Người ra đi giữ đất/ Hạt lúa này là nỗi vất vả nhân đôi/ Những khó khăn muốn đổ ập xuống người/ Tuổi của mẹ vẫn lo lên lo xuống/ Hạt lúa ơi! Hạt lúa ơi!” (Bùi Việt Phong).

Tiếng kêu ấy vẫn còn hằn sâu trong ký ức. Năm tháng ấy còn đói kém lắm. Tôi nhớ bữa ăn sáng ở chiến trường chỉ là cục bột nhỉnh hơn nắm tay một chút. Lạ thay! Nơi khắc nghiệt trực tiếp đào kênh, cõng đạn, tải thương, cầm súng chiến đấu lại đem đến cảm xúc mới. 

Do đó, không có gì là lạ lúc mới hai mươi, thế hệ trưởng thành sau 1975 đã ý thức: “Hạt gạo đến giờ mẹ làm vất vả/ Vẫn dành cho con ở khắp chiến trường/ Chúng con ăn cơm gạo bữa thường/ Nghĩ mẹ ăn khoai mà rơi nước mắt/ Khẩu súng nằm trên tay con run bần bật/ Dẫu suốt đời con theo lối chiến hào/ Nhìn lên mẹ/ Chúng con đi bất chấp gian lao” (Phùng Nguyên Thái).

Và, cá nhân tôi, khi ở chiến trường đọc lại tập thơ Bạch Vân thi tập của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết: “Chúng tôi quý ngày đang sống/ Cười rung nắng gió qua đèo/ Màn che cửa ngõ trăng treo/ Hiền sĩ lợi danh xa lánh/ Chúng tôi thời trai khỏe mạnh/ Cứ đi ngang dọc núi rừng/ Hiền sĩ ngâm thơ rưng rưng/ Đau đời lệ buồn chực ứa/ Chúng tôi nhen lên ngọn lửa/ Đọc thơ sảng khoái lạ lùng/ Xin biết ơn đến vô cùng/ Được đau nỗi đau người trước/ Niềm vui bây giờ có được/ Hiền sĩ đã một lần mơ/ Chúng tôi đi dưới bóng cờ/ Lồng ngực con trai mười tám/ Đỏ như mặt trời buổi sáng/ Đi tìm bóng dáng mùa xuân”.

Trong gian lao vẫn còn có những giây phút thong dong, chẳng hạn, từ  một tuyến kinh đang đào dở, chúng tôi đã nghe được… cuốc, leng, ky, dép đang trò chuyện: “Mười phút hết rồi/ Bạn ơi đứng dậy/ Dép ơi thôi kể/ Ky ơi thôi nằm/ Cuốc ơi ngồi lên/ Leng ơi xích lại/ Chúng ta xuống đấy/ Dòng kinh đang chờ” (Nguyễn Nhật Ánh). Những vần thơ tươi tắn ấy, không dễ gì ta có thể tìm lại được trong thời buổi này?

Không chỉ là lao động sản xuất, đào kinh, đắp đập mà thuở ấy, còn góp phần máu xương mình khi chiến tranh biên giới Tây Nam đang hồi khốc liệt: “Dẫu hành quân bộ suốt đêm/ Đạn trên vai vẫn muốn thêm nhiều vào/ Trời còn sót một vì sao/ Nhanh nhanh súng ở điểm cao nổ rồi (Trần Ngọc Châu). 

Chiếc áo xanh màu lá rừng, nón tai bèo, mũ cối đã làm nên hình ảnh một thời của những người vạm vỡ sức sống hai mươi. Và màu xanh ấy đã theo chúng tôi đi về nơi tuyến đầu đang nồng mùi khói đạn chiến tranh: “Thành phố tiễn đưa lên đường buổi sáng/ Áo màu xanh trong sáng trập trùng/ Nối tiếp bước nhau từng bước ung dung/ Những con trai và những người con gái/ Chiến trận nổ ra dọc đường biên giới” (Cao Vũ Huy Miên). 

Dù những công việc nặng nhọc, hiểm nguy ở tuyến đầu nhưng sá gì khi người ta còn trẻ: “Hai vai mải miết tháng ngày/ Vai này tải đạn, vai này tải thương/ Mở đường thẳng tới chiến trường/ Gỡ mìn, lấp hố, cứu thương, bắc cầu” (Triệu Ý)...

Lý giải như thế nào về một thế hệ thơ nồng nhiệt đến thế - nếu không phải chính hiện thực của đời sống đã hình thành nên cảm xúc tươi rói ấy? Đã có một thế hệ đưa chất liệu của tháng ngày lên rừng xuống biển vào thơ rất đỗi thuyết phục và cũng rất thơ. Vâng, khi thâm nhập vào cuộc sống mới với tất cả niềm tin đầu mùa phơi phới, thơ đã đến. Những bài thơ đầy ắp hơi thở của đất đai. Khói súng chiến trường.

Đến bây giờ, chúng tôi vẫn còn xúc động khi nghe lại tiếng hát phổ từ thơ của đồng đội: “Vạt áo xanh em ơi!/ Biên đen dòng điểm khuyết/  Màu nắng lên tha thiết/ Ta mang theo vào đời/ Con đường nào chông gai/ Chân trần ta lấm đất/ Biết trăm năm đường dài/ Có lòng ta son sắt” (Nam Thiên). Thơ ấy không có chỗ cho tưởng tượng hoa mộng, yếu đuối, bạc nhược. Từ tấm lòng mà ra. Một tấm lòng tha thiết với cuộc đời từ trong mạch máu của tuổi trẻ...

Thời điểm ấy, chuyện “đi ở” vẫn còn là một thời sự dằn vặt, níu kéo biết bao người. Ở lại và chấp nhận đến với chiến trường, nông trường: “Buổi sáng thức dậy/ Theo thói quen tôi giơ tay nhìn đồng hồ/ Chợt rùng mình thấy cổ tay mình đầm đìa những máu/ con vắt đói ngang tàng đã tìm vào lán sau cơn mưa rừng khắc khoải đêm qua” (Nguyễn Quang Minh). Chao ôi! Giữa lúc giằng co, chao đảo ấy có một thế hệ: “Nằm bên ngoài Tổ quốc dưới mưa rơi/ Tôi không thể sống thiếu người đã mất/ Tôi sống bằng cái chết của bạn tôi/ Tổ quốc nặng sâu hơn bởi tình yêu mảnh đất/ Đất bên ngoài Tổ quốc, Việt Nam ơi! (Đoàn Tuấn).

Những vần thơ hào phóng, yêu đời đã có được chính là lúc được hội nhập vào một vòm trời mới. “Khi đất có người, đất cũng có tên/ Khi anh yêu em trăng cứ rằm hạnh phúc/ Tiếng chim lạ trên bãi bồi gọi giục/ Đặt dấu chân mình lên dấu chân xưa/ Để mai đây xanh mượt bóng dừa/ Những lối thẳng đi vào tương lai mới” (Nam Thiên). 

Đời sống thế nào thì nó đi vào thơ thế ấy. Đọc đi đọc lại những vần thơ của năm tháng ấy, chợt nhớ lại một thời tuổi trẻ của mình. Còn đó những vần thơ của Bùi Chí Vinh, Đoàn Tuấn, Văn Lê, Phạm Trường Phục, Thanh Nguyên, Nguyễn Hữu Vang, Đoàn Huy Giao, Phạm Sỹ Sáu, Trần Ngọc Châu, Cao Vũ Huy Miên, Đoàn Cao Thắng, Trần Anh Tài, Diệp Hồng Phương, Lê Minh Quốc… gợi cho tôi nhớ lại một kỷ niệm khó quên đầu đời.

“Có lớp lính vừa qua tuổi Đội viên, lông tơ còn trên mặt/ Còn làm nũng, giận hờn rất đỗi hồn nhiên/ Những đồng đội khi tham gia trận đánh đầu tiên/ Còn bật khóc khi thấy người bên cạnh mình ngã xuống” (Phạm Sỹ Sáu). 

Và chúng tôi được kết nạp vào Đoàn ở chiến hào đường 14B. Tôi cảm thấy rợn gai ốc. Một cảm giác lạ lùng chạy dọc theo sống lưng của mình. Không có cờ và hoa. Không có đứng thẳng để tuyên thệ. Không có gắn huy hiệu Đoàn trên áo. Chúng tôi ngồi bệt dưới chiến hào với băng đạn AK cấn vào hông đau điếng để đón nhận điều thiêng liêng ấy trong đời...

Trong khi đó, ở hậu phương, một thầy giáo trẻ Đoàn Vị Thượng cũng bước vào cuộc chiến đấu với ý thức: “Đất nước trở trăn trong thiếu thốn và nghèo/ Chúng tôi nhiều khi phải tự đóng góp thêm công để các em có đủ ghế ngồi và tự sớt đồng lương cho những ngày thiếu phấn/ Có thể nào khác hơn khi tôi đưa ngón tay mình lên môi và cắn/ Biết rằng viên phấn cũng đau”. Hình ảnh ấy, nay nhìn lại đã thấy như một “cổ tích” qua nhanh. Đất nước thay da đổi thịt từng ngày...

Mới đó mà đã tròn 40 năm. Cảm xúc tươi rói cho đến tận bây giờ. Thế hệ đôi mươi của đầu thế kỷ XXI, không trải qua những dằn vặt mà thế hệ chúng tôi đã đi qua, họ đang có những lo toan, những suy tư của họ. Đã tròn 40 năm, thơ đang lật qua một trang khác... Thế nhưng, khi ý thức về những giọt máu của các thế hệ mình, làm sao thơ có thể trả hết?

Tôi lại mạo muội nghĩ, trong cơ chế thị trường hiện nay, với biết bao lượng thông tin từng ngày dội vào lớp trẻ với nhiều tác động trái ngược nhau. Thử hỏi, lớp trẻ hôm nay liệu có còn ai nhớ đến những vần thơ ngày ấy? Những câu thơ ấy, có còn “hợp thời trang” của khẩu vị hiện nay? Cần gì phải hỏi, chỉ biết rằng đã có một thời, có một thế hệ đã tự ý thức: “Sống trên đất nước mình/ Một đời chưa hết nợ”.

Lê Văn Nghệ

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?