Những đêm Cù Bai không có bóng tối
Tháng Bảy, núi rừng miền Tây Quảng Trị hay đổ những cơn mưa lớn bất chợt. Sáng ở khe núi Cha Lỳ, nước mưa từ đêm trước vẫn rỉ xuống những vách đá, ngấm vào lớp lá mục phủ kín mặt đất. Con đường mòn dẫn vào khu vực tìm kiếm hài cốt liệt sĩ chỉ vừa đủ một người đi; hai bên, dây leo quấn kín những mỏm đá vôi. Thiếu tá Nguyễn Hồng Phú, Phó Đội trưởng Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337, bước chậm phía trước rồi dừng lại ở khoảng rừng vừa được phát quang.
Lực lượng tìm kiếm miệt mài đào bới. Thỉnh thoảng, các anh lại dừng tay, chăm chú quan sát từng dấu vết trong lòng đất. Đến gần trưa, từ một hố đào vang lên tiếng reo: "Là mảnh tăng các anh ơi!". Những chiến sĩ ở các hố đào bên cạnh lập tức chạy đến. Tổ công tác chuyển sang dùng những chiếc bay gạt nhẹ từng lớp đất. Những chiếc cúc áo, đoạn dây điện thông tin rồi những mẩu xương đầu tiên lần lượt lộ ra. Dưới lớp đất sâu chừng 1 mét, hài cốt người lính nằm nguyên trong tấm tăng đã bọc suốt hơn nửa thế kỷ.
Một chiến sĩ cầm chiếc chổi mềm nhẹ nhàng phủi từng hạt đất còn bám trên các di vật. Một chiến sĩ khác ghi nhận vị trí, đánh dấu hiện trường. Mọi thao tác đều diễn ra chậm rãi, cẩn trọng như sợ làm xao động giấc ngủ đã kéo dài hơn nửa thế kỷ giữa núi rừng Trường Sơn.
Đó là hài cốt liệt sĩ thứ 3 được tìm thấy trên địa bàn Hướng Lập kể từ cuối tháng 6 năm nay. Trước đó, từ những nguồn tin do các cựu chiến binh cung cấp, Đội Quy tập đã nhiều lần trở lại các cánh rừng quanh Cù Bai, Cha Lỳ, Sê Pu. Có người chỉ nhớ một khúc suối. Có người nhớ một vách đá. Có người chỉ còn nhớ sau trận đánh, đơn vị rút lui về phía mặt trời lặn. Những mảnh ký ức rời rạc ấy, sau hơn nửa thế kỷ, lại trở thành những dấu chỉ để những người lính hôm nay lần theo tìm đồng đội.
Chúng tôi rời Cha Lỳ trở về Cù Bai khi mặt trời đã xuống thấp. Mùa này nước sông Sê Băng Hiêng không lớn. Những dải đá cuội nổi lên giữa dòng, mặt nước lặng đến mức nhìn rõ từng đàn cá nhỏ lẩn dưới bóng cây ven bờ.
Cụ Hồ Thị Bản, năm nay đã xấp xỉ 90 tuổi, ngồi trước hiên nhà sàn, mắt lặng lẽ hướng về con đường cũ dẫn xuống bến sông. Gần 60 năm đã trôi qua, nhưng trong ký ức của cụ, Cù Bai vẫn còn nguyên những đêm không có bóng tối.
"Đêm nào cũng có bộ đội đi qua...", cụ chậm rãi mở đầu câu chuyện. Theo lời cụ, từ khoảng năm 1967 đến cuối năm 1972, cứ khi trời vừa sập tối, từng đoàn bộ đội từ phía Bắc lại nối nhau vượt qua thung lũng. Người đi thành hàng dài, lặng lẽ bám theo nhau dưới tán rừng. Có đêm, đoàn quân kéo dài đến tận khuya vẫn chưa dứt. Cả thung lũng chỉ còn tiếng dép cao su hòa trong tiếng nước sông và tiếng người khẽ nhắc: "Giữ cự ly... bám sát đội hình...". Không ai đốt đèn. Không ai nói to. Đêm Trường Sơn khi ấy dường như chỉ còn thuộc về những bước chân.
Những năm ấy, tuyến đường 20 Tháng 7 nối với đường số 10 đi qua Cù Bai, vượt bến Sê Băng Hiêng sang đất bạn Lào rồi vòng trở lại miền Nam, trở thành một trong những mạch vận tải quan trọng của tuyến đường Trường Sơn. Chính vì vậy, Cù Bai, Sê Pu, Cha Lỳ, Tà Păng trở thành những trọng điểm đánh phá. Có ngày bom trút từ sáng đến tối. Rừng bị xé nát. Đất đá tung lên. Con đường vừa mở xong lại bị cày xới.
"Người Vân Kiều không còn nhớ hết tên các đơn vị từng đi qua bản mình đâu. Chỉ nhớ những gương mặt. Nhớ những chiếc ba lô. Nhớ đôi dép cao su. Nhớ những chàng trai còn rất trẻ. Có người ghé xin bát nước. Có người xin nắm cơm. Có người chỉ kịp mỉm cười rồi lại khuất dần trong đoàn quân nối nhau vào Nam. Nhiều người sau đó không trở lại nữa...", cụ Bản nói, giọng chùng xuống.
Người ở lại và những mùa lúa bên sông
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng bên dòng Sê Băng Hiêng, ký ức về những năm tháng ấy vẫn hiện diện trong cuộc sống của người Vân Kiều. Có một thời, người Vân Kiều chỉ quen phát rừng, đốt nương rồi trỉa lúa. Thu hoạch được vài tháng, cái bụng lại cồn cào vì thiếu ăn. Những năm 60 của thế kỷ trước, bà Hồ Thị Oi, khi ấy còn rất trẻ, cùng cán bộ Công an vũ trang đến từng bản, từng nhà vận động bà con bỏ dần tập quán làm rẫy, học cách dẫn nước từ sông Sê Băng Hiêng về làm ruộng. Không phải ai cũng tin. Đã quen với cái nương trên sườn núi, nhiều người không nghĩ dưới chân thung lũng lại có thể làm ra hạt lúa.
Những thửa ruộng đầu tiên rồi cũng hình thành bên dòng sông. Mùa gặt năm ấy, lúa đầy sân. Từ đó, những chân ruộng nối nhau mở rộng dọc theo Sê Băng Hiêng. Bà Hồ Thị Oi đã về với núi rừng từ nhiều năm trước, nhưng người trong bản vẫn nhắc đến bà như người đã gieo những mùa lúa đầu tiên bên dòng sông, để hạt lúa ở lại cùng bản làng cho đến hôm nay.
Ngủ lại Cù Bai một đêm, sáng hôm sau, chúng tôi theo chị Hồ Thị Hóa đi dọc cánh đồng dưới chân bản. Chị Hóa bảo, ngày nhỏ muốn sang bản bên phải lội qua sông. Mùa mưa nước lớn, nhiều tuần liền người dân bị cô lập. Bây giờ đã khác. Đường vào thôn Cuôi và nhiều thôn khác đã mở, con cái đi học thuận lợi hơn, người ốm được đưa đến trạm y tế nhanh hơn.
Cuộc sống ở đôi bờ Sê Băng Hiêng đổi thay từng ngày. Thế nhưng, trong câu chuyện của người Vân Kiều, hiện tại và quá khứ dường như chưa bao giờ tách rời. Nhắc đến mùa lúa, họ nhớ người lính. Nhắc đến con đường, họ nhớ những đoàn quân năm ấy. Nhắc đến dòng Sê Băng Hiêng, họ nhớ những người đã vượt dòng sông để vào chiến trường.
Có lẽ cũng bởi những năm tháng cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu ấy mà đến hôm nay, người Cù Bai vẫn nhắc tên Anh hùng Công an vũ trang Đào Xuân Hướng như nhắc về một người thân trong bản. Người chiến sĩ quê bên bờ Bắc sông Bến Hải đã rời xa cõi tạm gần 10 năm, nhưng trong ký ức của già Hồ Dần, của cụ Hồ Thị Bản và nhiều người Vân Kiều nơi đây, ông dường như vừa mới rời bản sáng hôm qua.
Sau chiến tranh, mỗi khi nhắc đến ông Đào Xuân Hướng, người Cù Bai ít nói về những chiến công. Họ nhớ tiếng cười, nhớ dáng người gùi hàng giúp dân, nhớ những bữa cơm quây quần bên bếp lửa. Giữa buổi sáng lộng gió bên dòng Sê Băng Hiêng, câu chuyện về người anh hùng ấy vẫn được kể bằng sự mộc mạc của người Vân Kiều, như thể ông chưa từng rời xa mảnh đất này.
Cuộc trở về chưa khép lại
Theo lời hẹn với Thượng tá Cao Sơn Hải, Trưởng Công an xã Hướng Lập, chúng tôi trở lại vùng đầu nguồn Sê Băng Hiêng vào trung tuần tháng Bảy. Con đường lên núi Cô Loang vẫn ngoằn ngoèo giữa những cánh rừng giáp biên giới Lào. Ở đây, cùng với cán bộ, chiến sĩ Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337, lực lượng Công an xã Hướng Lập đảm nhận việc dẫn đường vào các khu vực tìm kiếm, phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự địa bàn để công tác quy tập diễn ra an toàn, thuận lợi. Giữa đại ngàn Trường Sơn, mỗi lối mòn, mỗi con suối, mỗi bản làng đều cần đến sự am hiểu địa bàn của những người công an cơ sở.
Cũng trong đợt cao điểm hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, Công an xã Hướng Lập còn đảm nhận một nhiệm vụ khác. Từ dữ liệu dân cư, cán bộ, chiến sĩ rà soát, xác minh thông tin thân nhân liệt sĩ, phối hợp cùng đơn vị chuyên môn tổ chức thu nhận mẫu sinh phẩm ADN theo dòng mẹ. Với những trường hợp tuổi cao, sức yếu, đi lại khó khăn, cán bộ mang thiết bị đến tận nhà để lấy mẫu; những trường hợp khác được hướng dẫn thực hiện tại trụ sở UBND xã. Mỗi thông tin được xác minh, mỗi mẫu sinh phẩm được thu nhận hôm nay đều góp thêm một cơ sở khoa học cho hành trình trả lại tên tuổi những người đã hy sinh.
Chiều xuống rất nhanh trên đầu nguồn Sê Băng Hiêng. Phía núi Cô Loang, những điểm tìm kiếm vẫn còn đó, chờ ngày mai tiếp tục mở rộng. Dưới chân núi, dòng sông vẫn lặng lẽ chảy qua Cù Bai, Cha Lỳ rồi xuôi về đất bạn Lào. Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, hành trình tìm kiếm những người lính vẫn chưa khép lại. Trên hành trình ấy, mỗi cuộc tìm kiếm giữa đại ngàn, mỗi mẫu ADN được thu nhận, mỗi dòng dữ liệu được xác minh đều đang góp phần đưa những người còn nằm lại trở về với gia đình, với quê hương và với tên tuổi của mình.