Những ngày áp tết ở vùng biên

Mấy hôm trước gió còn ngằn ngặt, có nơi như Sapa và mấy xã phụ cận, như A Mú Sung và Y Tý phía Bắc Bát Xát, mọi người đã chuẩn bị đón tuyết rơi rơi… thế mà sang giữa tháng tháng chạp ta, mùa xuân đã về với Lào Cai rồi.

Có người bảo: Hoa đào ở Sơn La và Điện Biên thường nở trước nhiều nơi, người khác nói: miền Trung (như Nghệ An, Hà Tĩnh…) có nhiều nắng, nên cây đào, cây mơ còn đơm hoa trước nữa… Ai lên Lào Cai dịp này, nếu đến Mường Khương, dễ gặp từ những nụ to tròn, cả cây đào đã bung hoa đẹp lạ lùng theo cách riêng, từng cành, từng chùm hoa la đà trên bờ tường đá, rung rung vẫy vẫy người đi.

Nhiều năm trước, các cô gái và chàng trai Thái hay Mông, Dao hay Tày… ít có quần áo mới như mùa xuân năm nay thì phải? Có người hỏi thế, thì được trả lời: Đúng rồi. Tại sao ư? Vì gần đây, Lào Cai đã có nhiều chợ hơn, nhiều trung tâm thương mại - biên mậu hơn… Giao thương mở rộng, phát triển ở mọi tiểu vùng - nghề nghiệp, hàng hóa phong phú và chất lượng hơn, giá cả lại hợp lý nên ai cũng có điều kiện bán mua sắm sửa và làm đẹp, từ áo quần, túi xách… đến xe máy và ô tô.

Cùng với sự phát triển giao thương này, các lớp dạy và học ngoại ngữ ở thành phố Lào Cai và một số thị trấn đã mọc lên. Tiếng Hoa dường như chỉ bổ túc, bởi người kinh doanh trẻ hầu như đều biết, còn tiếng Anh thì theo lớp đàng hoàng. Có nhà bố mẹ học đã đành, rồi con cháu cũng học theo.

Một ông hưu trí (nguyên là giám đốc ngân hàng) nói:

- Biên mậu phát triển, rất cần ngoại ngữ ông ạ, mà phải là thứ ngoại ngữ thực tế, cụ thể…

Ông thượng tá hưu trí (vốn là bộ đội biên phòng) bảo:

- Hồi trẻ, chúng tôi chỉ lo học tiếng/ chữ Mông và Dao, rồi Thái và Tày để vào bản còn được dân coi là người nhà mới tiện cho công việc, còn bây giờ, đã nên ông nên bà, lại học tí tiếng Anh đây ông ạ.

image003.png -0
Đền Ken lưu giữ nhiều giá trị văn hoá trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Có lẽ, thành phố Lào Cai có sự chuyển mình mạnh mẽ hơn một số thành phố biên thùy phía Bắc Việt Nam thì phải? Kia thôi, khu phố Lào Cai (cũ), hầu như nhà cửa đã được xây cất lại to cao hơn, ô tô đời mới đậu sát các lề đường khiến một số đoạn phố như hẹp lại. Người dạo phố và người mua sắm không có vẻ vội vã như dưới xuôi. Người ta cũng ít nghe tiếng còi xe nhiều như nơi khác, mà dường như chỉ nghe tiếng nhạc nhẹ, tiếng đàn tính dập dìu, tiếng người nói người cười rì rào rì rầm đủ nhận biết. Ở các nơi xa mà đọc báo, nghe đài hay xem ti vi, dễ tưởng các dãy nhà dọc sông Hồng, cạnh cầu Cốc Lếu hay tại cửa khẩu Kim Thành của Lào Cai giờ này đầy những lo lắng bởi hàng trăm, rồi cả ngàn ô tô ứ hàng, xao xác… Nhưng có đến mới hay: Quả thực, có sự băn khoăn vì chờ đợi, nhưng cũng có thật nhiều sự thư thái và bình tâm.

Gần giống Đà Lạt, thành phố Lào Cai, với khu trung tâm mới, có đại lộ và những con đường ngang vừa rộng rãi thoáng đãng lại có chút ngắn đứt thật kỳ thú. Tất cả, đều quang quẻ, đầy màu xanh ngang tầm mắt, trên tầm mắt… của cây cao to, của đủ loại hoa sặc sỡ, và của nước sông Hồng. Từ A Mú Sung chảy về đến phố, Hồng Hà có phần trong trẻo và hiền hòa hơn.

Mươi năm trước đây, mọi người thường bàn với nhau về nơi đáng sống là đất nước nọ, thành phố kia. Người đến tỉnh Lào Cai bây giờ, thành phố Lào Cai lúc này, cũng dễ liên tưởng sâu xa: Nơi bình yên, nơi thanh sạch, nơi đang phát triển… là nơi đáng sống phải không? Vậy thì thành phố bên con sông Hồng này đã và đang thật đáng sống rồi thì phải.

Lào Cai chuẩn bị bước sang năm Nhâm Dần không chỉ có sản vật của đồi nương và rừng nguyên sinh, mà còn có các mỏ sắt, mỏ đồng, mỏ đá cho sản lượng lớn xuất khẩu, còn có các loài cá quý hiếm như cá hồi, cá măng… lại có cả những khu du lịch tầm cỡ như Sapa, Bắc Hà… sắp tới, là Y Tý và Khánh Yên, Phố Ràng, Si Ma Cai, Lũng Pô…

Trong Lào Cai hôm nay có những huyền tích từ xửa xưa.

Một nhà nghiên cứu đã nói là: Ở đâu đâu trên quê hương Việt Nam ta cũng có những truyền thuyết và huyền thoại, chuyện ma chuyện tiên, chuyện dị nhân rồi chuyện giao tranh… nhưng chuyện đánh cướp, đánh giặc giữ mường bản, bảo vệ ruộng vườn, thì có lẽ, nhiều hơn cả, vẫn là ở các miền quê biên viễn và ở mấy tỉnh miền Trung nước ta. Ở những nơi này, dường như ngọn núi nào, khu rừng nào, con suối, con sông nào cũng gợi cho bao nhiêu thế hệ người kể chuyện dân gian nẩy ra cảm hứng và ý tứ mà rủ rỉ cùng con cháu rằng:

Ở cái dáng núi ấy, trong cái màu cây lá kia, rồi cả cái dòng nước có ngày trong văn vắt, có bữa cuốn xiết đục ngầu ra thế… đều là dấu tích còn lại từ ngàn xưa của ông bà cụ kỵ tổ tiên những người sống hiện giờ, đã chiến đấu ngoan cường thế nào, và cũng có lần, do thiếu phòng bị hay vì một lý do gì đó, mà đã bị thua thiệt, oan ức khôn nguôi được.

Tôi đến Đền Ken ở xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, một sáng chớm xuân có nắng mà gió vẫn lạnh. Thơ thẩn trong và ngoài khu di tích hơn 1 ha trên đỉnh núi Pù Đình - nơi đền Ken ngự, nhìn ra bốn phương tám hướng xung quanh, trầm lắng với tán cây và gốc cây sui cổ của Đền, nghe lao xao có tiếng chào tiếng mời, rồi như chìm dần với tâm tưởng.

Đền Ken là nơi ghi công hai cha con Nguyễn Đình Thu và Nguyễn Đình Long - những hậu duệ của các tướng lĩnh Tây Sơn dạt bước lên vùng sơn cước heo hút này. Cùng với các hào kiệt người Thái, người Tày, người Mông bản địa, các ông đã đánh bạt giặc Vàng phương Bắc xâm lấn nhiều lần.

Tết gần lắm rồi, mấy hôm nay các án thờ, sân vườn và lối đi ở Đền Ken và Đền Bảo Hà, Đền Đức Thánh Trần… đang được lau chùi, dọn dẹp, sửa sang… Ngày càng có nhiều khách Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Nghệ An, rồi cả Đồng Nai, Sài Gòn… lên trẩy hội các đền, vừa tưởng nhớ công ơn các tiền nhân oai linh, vừa vái lạy xin nhận họ Nguyễn Đình với Ông Hoàng ở Đền Ken. Văn Bàn và Lào Cai đang thành một điểm tụ hội mới.

Tâm thức dân gian kể lại rằng: Cạnh khu Đền Ken, còn có dấu tích quân doanh, ngai vàng của một ông vua người Thái đen, vốn cũng là trẻ trâu ở đất rừng Chiềng Ken này, tên là Chà Liều. Ấu thơ, bé Chà Liều cũng thông minh dĩnh ngộ như nhiều anh hùng áo vải nước ta. Lớn lên, chàng Chà Liều xưng vua, các bạn trẻ hồi nào thành tướng sĩ. Họ đã đánh giặc ngoại bang, đánh bọn cướp bảo vệ bản làng. Vua Đại Việt cảm mến vua Chà Liều nơi phên dậu quốc gia, nên đã tác thành cho Chà Liều với con gái yêu của một vị tướng. Chà Liều xứng đáng thế và tiếp tục giữ yên bờ cõi Đại Việt nơi phiên ải.

Được tắm mình trong nắng mùa Đông mà vàng tươi như mật ong đầu xuân, ta như nghe được thật rõ lời Người muôn năm trước, rằng: Đã thấm nhuần một tình yêu xứ sở, đã can trường đảm lược trong chiến chinh, xin đừng để tình riêng cao hơn nợ nước rồi đến nỗi sa cơ.

Trong cuộc trường chinh cần lao mấy ngàn năm nay, cộng đồng người Việt dưới dãy Hoàng Liên Sơn đã thích thú như người Việt ở mọi vùng xuôi khi đọc cho nhau nghe những câu thơ tình tứ như:

"Ước gì sông rộng tày gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi".

Tôi đã gặp, đã nghe ở Đền Ken, ở quán cà phê gần cầu Cốc Lếu, ở Hội Lim Bắc Ninh mấy câu này nữa:

"Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với, chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi

Cho anh cắt với, làm đôi vợ chồng".

Nhà văn Công Thế kể: Dưới lưng chừng đèo Khau Co, phía Nam hệ núi Hoàng Liên, có bản Tu Thượng, Khoảng 300 năm trước, người Mông từ bên kia biên giới trôi dạt sang đất ta, ngụ cư ở Tu Thượng. Bởi núi rừng hiểm trở, bởi ngại ngùng mặc cảm bị xua đuổi như hồi ở bản quốc, mấy gia đình người Mông này sống khép kín, ẩn dật, rồi sinh ra nạn quần hôn, con cháu các đời sau trở nên thấp bé. Quan đồn Pháp gọi họ là bà con xa của người Nhật.

Một lần kia, nghe báo là nhóm người Mông xanh này bắt được thú quý hiếm, lính Tây leo núi tìm đến, đòi nộp thú quý. Bà con nói thác ra là đói quá, phải làm thịt đứa bé ốm không thể nuôi chữa được. Lính Tây không tin, tự mở vung nồi, trong mờ mịt hơi và khói, thấy có bàn tay bé nhỏ thật, cả bọn quày quả đi ra cả. Từ đó, xóm nhỏ Mông xanh này mang thêm tiếng: Mông xanh ăn thịt người! Họ càng bị xa lánh thêm.

Mãi sau 1945, rồi đến cuộc kháng chiến chống Pháp, cán bộ ta đến cùng ăn, cùng ở, cùng làm giác ngộ bà con, thì mới rõ: Năm xưa ấy, bà con bắt được một con căng (thuộc loài khỉ), thì nấu cháo ăn thôi.

Trong rực rỡ đèn đêm, tự nhiên nhớ Bản Phố năm nào. Bản Phố, phải rồi, Bản Phố với thơ Đoàn Hữu Nam: "Rượu rót bát tràn bát/ Mắt rót trân trong mắt/ Tình say đến ngu ngơ…", rồi nhớ sang Tô Hoài, ông cụ cười tinh quái: "Cái anh không uống được rượu mới làm thơ rượu hay được. Đúng thế đấy. Nhấp môi thôi, uống như người biết uống thì thấy được gì mà làm thơ cho hay nữa!".

Và nhớ cả mấy anh Công an ở các xã giáp biên dịp này đang lo xuống bản làm Căn cước công dân vào các buổi tối, vì ban ngày bà con đi làm cả. "Đi bằng gì?". "Đi bộ, đi xe máy". "Xa không?". "Dạ, cũng trên dưới 10 cây số, vâng, đi mất gần một giờ, về cũng thế". "Về chắc ngủ tít, nhỉ?". "Nhiều hôm chưa kịp ăn uống gì, lại phải lên đường ngay vì được báo có F0 đang ở đâu đấy phải tìm, vì có đám trai trẻ quá chén đánh nhau, có tai nạn đâm xe đổ máu bên đường …".

Muốn bình yên, Công an phải cùng mọi người có mặt thôi. Ở Lào Cai và các vùng biên người ta đều bảo nhau thế.

Thủy Liên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).