Các nữ phi công trong đại chiến thế giới lần thứ II:

Những bóng hồng trên cánh gió

Bất cứ điều gì tồn tại cũng có lý do của nó, và chuyện trong các cuộc không chiến rực lửa của Đại chiến thế giới lần thứ hai có cả sự tham gia của không ít những người phụ nữ lạ thường cũng vậy. 

* Tổng cộng đã có 1.102 nữ phi công, tất cả đều là các phi công tình nguyện, hoàn tất các khóa huấn luyện của WASP, và được ghi nhận xứng đáng bởi các chỉ huy khi thực hiện nhiệm vụ thực địa.

* 1.102 nữ phi công ấy đã điều khiển hầu như mọi dạng bay phục vụ mục đích quân sự, kể cả máy bay ném bom B-26 và B-29, như một phần của chương trình WASP.

* 38 nữ phi công đã thiệt mạng khi thực hiện các chuyến bay phục vụ Tổ quốc.

* ATA cung cấp tổng cộng 168 nữ phi công trong suốt Đại chiến thế giới lần thứ 2.

Cùng với bổn phận dành cho tổ quốc của mình, những đóa hồng đó bay vào giông gió với cả lực đẩy là đam mê cũng như lòng yêu thích cảm giác phiêu lưu.

70 năm sau

Ký ức về những người nữ phi công từng phục vụ trong những đoàn quân chiến thắng của Đại chiến thế giới lần thứ hai chợt dội về với nhân loại, vào ngày 17-4-2018. 

Hôm ấy, nói như trang www.cleveland.com: "Định mệnh, trong một vòng xoay không ai chờ đợi, đặt Tamie Jo Shults vào một tình huống sinh tử, mà may mắn thay bà đã được luyện tập".

Chiếc Boeing 737 của hãng hàng không Mỹ The Southwest Airlines mà Tamie có mặt trong kíp lái hôm ấy bị hỏng động cơ, khi đang ở giữa những tầng mây. Tất cả mọi hành khách trên chuyến bay 1380 ấy đáng lẽ đã có thể đều trở thành người thiên cổ, nếu Tamie Jo Shults cùng cộng sự Darren Ellisor không quyết định cố gắng xử lý tình hình bằng một sự điềm tĩnh và chính xác đáng kinh ngạc. 

Cất cánh từ sân bay La Guardia ở New York để đến tận sân bay Love Field tại Dallas, chiếc Boeing cuối cùng hạ cánh an toàn được xuống sân bay Philadelphia.  

Những người chị em từ hai bờ Đại Tây Dương.
Những người chị em từ hai bờ Đại Tây Dương.

Shults không phải là một tân binh. Bà đã từng là một trong những nữ phi công chiến đấu kỳ cựu của Hải quân Mỹ. Và trước đó, đã từng là một cô bé học sinh trung học đủ mộng mơ để nghĩ đến việc trở thành người chinh phục bầu trời.

Nhưng, bà không thuộc thế hệ tiên phong. Từ câu chuyện của bà, hoài niệm về những người nữ phi công đầu tiên đích thực, thế hệ trưởng thành trong binh lửa Thái Bình Dương 70 năm trước, mới được khơi lại. Họ tự hào về những gì Tamie Jo Shults thực hiện, trong vai trò là người kế tục họ. Và họ cũng có những vinh quang để chia sẻ, của riêng mình.

Bắt đầu từ Trân Châu Cảng

Nancy Love, mất năm 1976, được nhớ đến như người dẫn đầu của 300 nữ phi công thuộc WASP (Women Airforce Service Pilots - Những nữ phi công phục vụ trong không lực Hoa Kỳ). Nhiệm vụ của họ, hiểu một cách ngắn gọn, là bay vòng quanh nước Mỹ vì vô số những yêu cầu cần thiết của cuộc chiến tranh ngày đó.

Mùa xuân năm 1942 ấy, trận tập kích Trân Châu Cảng của hải quân Nhật Bản là một đòn đánh choáng váng, đồng thời cũng là pha "bật công tắc", kích hoạt toàn bộ tiềm lực quân sự của nước Mỹ tại mặt trận Thái Bình Dương. 

Giao tranh trên mặt biển mênh mông ấy, thực tế đòi hỏi quá nhiều nhân lực, để tham gia vô số những công tác. Những nam phi công tốt nhất, không nghi ngờ gì nữa, nối nhau bay vào các cuộc chiến đấu trực diện.

Margaret Phelan Taylor.
Margaret Phelan Taylor.

Phần việc còn lại: huấn luyện, vận tải, thám sát, tìm kiếm, giữ liên lạc quanh bờ biển nước Mỹ, cần phải có thêm "viện binh". Và những nữ phi công thể hiện được đầy đủ khả năng công tác sau kỳ huấn luyện, như Nancy Love, đã ghé vai gánh đỡ nhiệm vụ đó.

Nancy Love chính là người thuyết phục chỉ huy huấn luyện của mình, đại tá William H.Tunner, rằng có rất nhiều nữ phi công có thể tham gia các khóa huấn luyện đó. Mà thực tế, cũng cần phải đào tạo thêm hàng nghìn phi công nữa, nhằm bảo đảm thành công cho các chiến dịch quân sự.

Tunner và Nancy, lúc đầu, tuyển mộ 27 nữ phi công đã có kinh nghiệm bay dân sự, và đẩy họ vào bãi huấn luyện để làm quen với vai trò mới. 

Cũng cần nhấn mạnh rằng, kể từ Amelia Earhart huyền thoại - người nữ phi công đầu tiên trên thế giới một mình bay qua Đại Tây Dương - phụ nữ Mỹ đã có được một biểu tượng, một nguồn cảm hứng, một tấm gương để không đến nỗi quá xa lạ và sợ hãi với việc điều khiển một chiếc máy bay. 

Nguồn cung cấp các nữ huấn luyện viên không đến nỗi quá khan hiếm, trong khi các tố chất sư phạm thiên phú của họ lại vô cùng phù hợp với nhiệm vụ mới. Và chương trình xem như đã thành công ngay từ đầu.

Tunner, được thúc đẩy bởi Nancy Love, mỗi lúc một trở nên tự tin. Đến mức độ, chỉ một thời gian sau, trong mắt ông đã không còn sự phân biệt về trình độ giữa phi công hai giới. Những nữ học trò của ông, cũng như nam giới, được phép bay cao hơn, nhanh hơn, lái những chiếc máy bay lớn hơn, với sức máy ghê gớm hơn.

Nhưng đến cuối năm 1944, khi đà thắng lợi đã nghiêng hẳn về phía phe Đồng Minh (Liên Xô, Mỹ, Anh), khi các cuộc chiến ở châu Âu đã co về sát thủ đô Berlin của Đức Quốc xã, và khi hải quân Nhật đã bị đẩy dạt về phía châu Á để co cụm phòng thủ trong những thành lũy cuối cùng, việc WASP tiếp tục hoạt động để mạo hiểm sinh mạng của những người phụ nữ trở nên không còn cần thiết nữa. 

Chương trình dừng lại. Nhiều nữ phi công lại được chuyển về các hoạt động dân sự. Một số người xuất sắc tiếp tục phục vụ trong Không quân hoặc Hải quân Hoa Kỳ. Tamie Jo Shults là một trong những cái tên đó.

Sau câu chuyện ngày 17-4-2018, giới truyền thông Mỹ ngợi ca bà bằng cụm từ "hệ thần kinh thép". Và họ cũng khẳng định: Nancy Love, nếu còn sống, sẽ vô cùng tự hào.

Mauren Dunlop, một tượng đài của ATA trong khoang lái Spitfire.
Mauren Dunlop, một tượng đài của ATA trong khoang lái Spitfire.

Những chiến công thầm lặng

"Khi chương trình WASP bắt đầu, tôi còn không dám chắc rằng những cô gái ấy có thể lái những chiếc B-17 bay trong thời tiết xấu hay không. Còn bây giờ, năm 1944, những số liệu thống kê đã khẳng định rằng phụ nữ hoàn toàn có thể điều khiển máy bay tốt như đàn ông" - Tư lệnh không quân Mỹ khi ấy, Henry "Hap" Arnold, từng thốt lên như vậy, vào những ngày cuối cùng mà chương trình còn hoạt động.

Những gì mà các nữ phi công đã thực hiện, tuy ít được nhắc đến và còn nhanh chóng bị phủ mờ dưới cát bụi thời gian, thực sự đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng cuối cùng của quân đội Mỹ ở Mặt trận Thái Bình Dương.

Họ chính là người lái những chiếc máy bay xuyên những chuyến bay dài qua cả nước Mỹ: Từ nhà máy sản xuất tới căn cứ quân sự, và rồi tới điểm tập trung để lên đường ra mặt trận. Họ cũng chính là những người thử nghiệm đầu tiên để tìm ra những lỗi, những sai sót, những nguy cơ có thể xảy đến với các mẫu máy bay mới. 

Họ thậm chí còn phải đóng vai "quân xanh" trong các buổi luyện tập bắn đạn thật của các phi công lái chiến đấu cơ. Trong khoảng thời gian hai năm ngắn ngủi ấy, WASP đã trở thành một phần tất yếu của hệ thống huấn luyện quốc phòng Mỹ.

Một trong những nhân vật danh tiếng nhất trong số các nữ phi công của WASP thời ấy, không thể không nhắc đến, là Jacqueline Cochran - người sau chiến tranh trở thành nữ phi công đầu tiên bay vượt qua tốc độ âm thanh. 

Cochran tự đặt cho mình một mục tiêu: Đào tạo càng nhiều nữ phi công càng tốt, hàng nghìn nữ phi công, chứ không chỉ là vài chục người phục vụ các chương trình dành cho nam giới. Bà muốn phụ nữ cũng được đào tạo chuyên biệt trong lĩnh vực quân sự. 

Bà tin rằng điều đó là hoàn toàn khả thi. Và đúng vậy. Khi so sánh những chỉ số về an toàn, không hiếm khi có chuyện chỉ số của các nữ phi công còn tốt hơn những đồng nghiệp nam giới cùng thực thi một sứ mệnh tương tự.

Nhưng, điều gì phải đến cuối cùng cũng đến, vào cuối năm 1944, khiến ngọn cờ giải phóng phụ nữ mà Jacqueline Cochran trên bầu trời không thể tiếp tục được phất lên. 

Vì bầu trời nghĩa là không giới hạn.
Vì bầu trời nghĩa là không giới hạn.

Như nhà nghiên cứu lịch sử Katherine Sharp Landdeck - Giáo sư Sử học trường Đại học Phụ nữ Texas, tác giả cuốn sách viết về WASP mang tựa đề Against Prevailing Winds: The Women Airforce Service Pilots and American Society - nhận xét: "Phụ nữ thay thế đàn ông (trong vai trò phi công) là điều không thể chấp nhận được hồi ấy. Họ có thể góp phần giải phóng đàn ông - đó là vì lòng ái quốc - nhưng thay thế thì không được phép".

Một nhận xét dường như gợi lên khá nhiều khía cạnh, về những tâm tư ẩn sâu dưới lớp vỏ bọc bổn phận đầy hào quang vốn vẫn được nhắc đến đầu tiên khi nói tới các nữ phi công WASP.

Chạm đến bầu trời

Bay đã luôn là một giấc mơ hoang đường ám ảnh loài người, kể từ câu chuyện đau đớn về Icarus với đôi cánh tan chảy giữa tầng không trong thần thoại Hy Lạp. 

Nhưng, có lẽ, với những rào cản giới tính dựng sẵn kể từ buổi hồng hoang của nhân loại, giấc mơ ấy còn ám ảnh phụ nữ hơn nhiều so với nam giới. Không phải ngẫu nhiên, cuộc đời phóng khoáng phi thường cũng như vụ mất tích bí ẩn của Amelia Earhart lại trở thành một nguồn chất liệu vô tận cho văn học hay điện ảnh Mỹ, cho đến tận bây giờ.

Không mang nhiều tính chất thần thoại hay anh hùng ca như vậy, không thể, nhưng cuộc đời của mỗi nữ phi công WASP cũng đều thấm đẫm khát vọng tự do - điều mà sau 70 năm, họ đã không còn phải giấu giếm nữa. 

Họ đã có thể công khai về nó, như Jacqueline Cochran đã mở đường, và qua đó lật lên những bức màn lịch sử, đem ánh sáng soi rọi vào vài góc khuất bình dị.

Như Margaret Phelan Taylor, cô thôn nữ lớn lên ở một trang trại tại tiểu bang Iowa. Năm 1943, Margaret 19 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học. Một hôm, tấm ảnh bìa tạp chí Life, với câu chuyện về những nữ phi công WASP hồi đó, đập vào mắt Margaret. 

Và thế đã là quá đủ để cô sẵn sàng cho những chuyến phiêu lưu. Vả lại, anh trai của Margaret cũng là một phi công đã được huấn luyện, vậy tại sao cô lại không thể?

Nhưng, mọi chuyện không hề dễ dàng. Margaret phải vay cha mình 500 USD - một số tiền rất lớn khi đó - để có thể tham gia khóa đào tạo và nhận chứng chỉ. 

"Tôi nói với cha là tôi phải làm điều đó, và ông đưa tôi tiền. Hình như tôi chưa bao giờ trả lại cho ông", sau này, Margaret Taylor nhớ lại. 

Chưa hết, Margaret thấp hơn nửa inch (tương đương khoảng 1,5 cm) so với tiêu chuẩn tuyển sinh. "Tôi phải nhón chân lên. Và tôi được nhận. Và rồi, khi đến khu huấn luyện, tôi gặp rất nhiều cô gái cũng thấp như tôi. Chúng tôi cười phá lên, vì biết rằng tất cả đã cùng làm một điều như nhau". 

Cao, thấp, thanh mảnh, đẫy đà… tất cả bọn họ đều đã có mặt, cùng chỉ vì một mục tiêu: Làm thế nào để lái được máy bay? Đó giống như cả một nỗi uẩn ức, một niềm khao khát, của không chỉ một cá nhân nào hết.

Vì mục tiêu ấy, họ đã bất chấp tất cả, đã vượt qua những nỗi sợ hãi và những nguy cơ hoàn toàn xa lạ với phụ nữ. Margaret Taylor, trong lần đầu tiên đưa một chiếc máy bay bay xuyên nước Mỹ từ California đến Arizona, thấy khói bốc lên trong buồng lái của mình. 

Bà đã được huấn luyện về việc thoát hiểm nếu có sự cố, nhưng "Dù thì lại được may to quá, không vừa với phụ nữ chúng tôi". 

Bà đành đưa ra một quyết định khác: "Ta sẽ chờ xem có lửa không đã! Đến lúc thấy ngọn lửa thì nhảy dù cũng chưa muộn". "Bà có sợ không?". "Sợ á? Không! Chẳng bao giờ! Chồng tôi sau này còn bảo rất khó dọa được tôi!". Và đến lúc ngọn lửa bùng lên, bà mới nhảy ra ngoài thật. Bà an toàn, còn chiếc máy bay thì cháy rụi sau đó ít phút.

Một nữ phi đội WASP bên một chiếc B17.
Một nữ phi đội WASP bên một chiếc B17.

Hoặc là, bên cạnh Margaret Taylor, có thể nhắc tới Mabel Rawlinson, năm ấy 26 tuổi, đến từ Kalamazoo, một trong những người ngã xuống. Rawlinson được phác họa trong những hồi ức của đồng đội về mình, đầy lấp lánh và cũng vô cùng mộc mạc. 

"Tôi biết Mabel rất rõ. Chúng tôi cùng được lên lịch bay đêm, trên một chiếc máy bay vận tải A-24. Đáng lẽ tôi bay trước, như cô ấy đòi đổi lịch. Chỉ bởi vì tôi chưa kịp ăn tối. Tôi ở trong căng-tin, và nghe thấy một tiếng động khủng khiếp. Chúng tôi chạy ra đường băng. Tôi nhìn thấy chiếc máy bay bị bao trùm bởi ngọn lửa, và nghe được cả tiếng thét của Mabel. Đó quả thực là một cơn ác mộng" - Marion Hanrahan, một cựu WASP khác, hồi tưởng.

Nhưng, đoạn sau của câu chuyện mới đáng chú ý, bởi sự bất nhẫn và chua chát của nó. Mabel, lúc đó, vẫn là một phi công dân sự. Thế nên, quân đội không chi trả cho tang lễ của cô, cũng chẳng trả cả chi phí gửi lại những kỷ vật cuối cùng về nhà. 

Những đồng đội - chị em của Mabel ở WASP góp nhau từng đồng ít ỏi, để làm điều nghĩa tận đó. Có người xin giữ lại chiếc mũ của Mabel, như một chứng tích đau thương.

Trên quan tài của Mabel, dĩ nhiên, không được phủ cờ sao, cũng chẳng có nghi lễ nhà binh nào. Cha mẹ cô phải tự làm điều đó, ở nhà. Mabel, cũng như cả WASP, đã phải chờ tới 65 năm sau khi giải tán chương trình, mới được thừa nhận là một cơ chế quốc phòng mang tính quân sự, và được nhận những vinh dự muộn màng.

Bên kia Đại Tây Dương

WASP không cô đơn. Thật ra, bên kia Đại Tây Dương, những người chị em Anh quốc của họ thậm chí còn đã nhập cuộc sớm hơn họ khá nhiều, trong những nhiệm vụ tương tự. Và thậm chí là nhìn thẳng vào cái chết.

Nếu như không quân Nhật Bản, do những rào cản không thể vượt qua về tiếp liệu, hầu như không có cơ hội dội bom xuống vùng duyên hải nước Mỹ, thì bởi vì chỉ cách một eo biển Manche, không quân Đức Quốc xã, ngay từ đầu Đại chiến thế giới lần thứ hai, đã liên tục trút bom đạn xuống thủ đô Luân Đôn của nước Anh. 

Bối cảnh ấy tạo nên những bản hùng ca đích thực, và ghi dấu cả những gương mặt phụ nữ vào lịch sử "Trận chiến Anh quốc" nổi tiếng này.

Người đầu tiên được chiêu mộ vào Không quân Hoàng gia Anh quốc là Pauline Gower - một tiểu thư trâm anh thế phiệt đúng nghĩa, con gái của cựu Thủ tướng Anh Sir Robert Gower. Nối bước Pauline, hàng trăm phụ nữ Anh cũng xung phong phục vụ cho Cơ quan Hỗ trợ Hàng không Anh quốc (ATA - The Air Transport Auxiliary), với sự thôi thúc của lòng yêu nước cũng như của khát vọng chạm đến bầu trời - một thứ khát vọng dai dẳng không có gì khác biệt so với những người chị em nước Mỹ.

Các nữ phi công của ATA lái cả các chiến đấu cơ khét tiếng Spitfire hay Hurricane, và cả máy bay ném bom hạng nặng Lancaster. Có người, như Mary Ellis, khi kết thúc thời gian phục vụ, đã thực hiện tới hơn 1000 phi vụ, với 74 loại máy bay khác nhau. 

Có người, như Joy Lofhouse, 92 tuổi vẫn quay trở lại buồng lái phục vụ một chương trình truyền hình, và được BBC kính cẩn tặng biệt danh "Spitfire Woman". 

Điều này xuất phát từ thổ lộ thấm đẫm tình yêu của bà, khi gặp lại cỗ máy ấy: "Spitfire là thứ gần gũi bạn nhất mà lại mang đôi cánh của riêng bạn, và có thể bay. Đó là một chiếc máy bay kỳ diệu. Thật khó mô tả cảm xúc này, khi lại có cơ hội bay cùng một chiếc Spitfire lần nữa, sau chừng ấy thời gian xa cách".

Trong ký ức của "Spitfire Woman", những ngày rực lửa của Đệ nhị thế chiến ấy cũng chẳng bao giờ phai mờ. "Đó là công việc tuyệt vời nhất mà tôi có thể có ngày ấy, bởi tôi có thể góp phần làm nên chiến thắng cho Không quân Hoàng gia Anh, cho nước Anh!". 

Nước Anh và Luân Đôn, dù ngói tan gạch nát, vẫn đứng vững sau những trận không kích điên cuồng của không quân Đức. Để rồi, mệt mỏi và muốn tìm một hướng đột phá khác, những đoàn quân Quốc xã trả lại sự bình yên cho bầu trời Anh quốc, tiến quân sang phía Đông, vào biên giới Liên Xô.

Đổi lấy quãng nghỉ vô giá đó, ATA đã chứng kiến không ít những cuộc chia ly, cũng đau đớn như bất cứ cuộc chia ly nào. Amy Johnson, người có mặt trên những tấm poster quảng bá cho lực lượng, gục ngã vì thời tiết xấu ngay bên bờ sông Thames, năm 1941. 

Margaret Fairweather, ra đi năm 1944, khi va chạm với máy bay của một người chị em đến tăng viện từ bên kia đại dương - Mary Nicholson.

Đúng vậy, ở chặng cuối Đại chiến, những bóng hồng trên cánh gió ấy đã gặp nhau, tạo nên những mối liên hệ - những gạch nối bất tử. 

Jacqueline Cochran trở thành nữ phi công đầu tiên lái một chiếc máy bay ném bom băng qua Đại Tây Dương (một chiếc Lockheed Hudson V, hạng nhẹ chuyên săn ngầm), một sự chi viện từ nước Mỹ đồng minh, một chuyến bay mang tính biểu trưng cho việc không quân Đức Quốc xã đã bị đẩy lùi khỏi vùng trời Anh quốc, co cụm về sát hành lang sông Rhine.

Những gương mặt ấy, những tên tuổi ấy, những khát vọng ấy, những cống hiến ấy đã có lúc chìm sâu dưới trầm tích thời gian. Song, chưa bao giờ chúng thật sự bị lãng quên…

Thiên Phong

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.