Các nữ phi công trong đại chiến thế giới lần thứ II:

Những bóng hồng trên cánh gió

Bất cứ điều gì tồn tại cũng có lý do của nó, và chuyện trong các cuộc không chiến rực lửa của Đại chiến thế giới lần thứ hai có cả sự tham gia của không ít những người phụ nữ lạ thường cũng vậy. 

* Tổng cộng đã có 1.102 nữ phi công, tất cả đều là các phi công tình nguyện, hoàn tất các khóa huấn luyện của WASP, và được ghi nhận xứng đáng bởi các chỉ huy khi thực hiện nhiệm vụ thực địa.

* 1.102 nữ phi công ấy đã điều khiển hầu như mọi dạng bay phục vụ mục đích quân sự, kể cả máy bay ném bom B-26 và B-29, như một phần của chương trình WASP.

* 38 nữ phi công đã thiệt mạng khi thực hiện các chuyến bay phục vụ Tổ quốc.

* ATA cung cấp tổng cộng 168 nữ phi công trong suốt Đại chiến thế giới lần thứ 2.

Cùng với bổn phận dành cho tổ quốc của mình, những đóa hồng đó bay vào giông gió với cả lực đẩy là đam mê cũng như lòng yêu thích cảm giác phiêu lưu.

70 năm sau

Ký ức về những người nữ phi công từng phục vụ trong những đoàn quân chiến thắng của Đại chiến thế giới lần thứ hai chợt dội về với nhân loại, vào ngày 17-4-2018. 

Hôm ấy, nói như trang www.cleveland.com: "Định mệnh, trong một vòng xoay không ai chờ đợi, đặt Tamie Jo Shults vào một tình huống sinh tử, mà may mắn thay bà đã được luyện tập".

Chiếc Boeing 737 của hãng hàng không Mỹ The Southwest Airlines mà Tamie có mặt trong kíp lái hôm ấy bị hỏng động cơ, khi đang ở giữa những tầng mây. Tất cả mọi hành khách trên chuyến bay 1380 ấy đáng lẽ đã có thể đều trở thành người thiên cổ, nếu Tamie Jo Shults cùng cộng sự Darren Ellisor không quyết định cố gắng xử lý tình hình bằng một sự điềm tĩnh và chính xác đáng kinh ngạc. 

Cất cánh từ sân bay La Guardia ở New York để đến tận sân bay Love Field tại Dallas, chiếc Boeing cuối cùng hạ cánh an toàn được xuống sân bay Philadelphia.  

Những người chị em từ hai bờ Đại Tây Dương.
Những người chị em từ hai bờ Đại Tây Dương.

Shults không phải là một tân binh. Bà đã từng là một trong những nữ phi công chiến đấu kỳ cựu của Hải quân Mỹ. Và trước đó, đã từng là một cô bé học sinh trung học đủ mộng mơ để nghĩ đến việc trở thành người chinh phục bầu trời.

Nhưng, bà không thuộc thế hệ tiên phong. Từ câu chuyện của bà, hoài niệm về những người nữ phi công đầu tiên đích thực, thế hệ trưởng thành trong binh lửa Thái Bình Dương 70 năm trước, mới được khơi lại. Họ tự hào về những gì Tamie Jo Shults thực hiện, trong vai trò là người kế tục họ. Và họ cũng có những vinh quang để chia sẻ, của riêng mình.

Bắt đầu từ Trân Châu Cảng

Nancy Love, mất năm 1976, được nhớ đến như người dẫn đầu của 300 nữ phi công thuộc WASP (Women Airforce Service Pilots - Những nữ phi công phục vụ trong không lực Hoa Kỳ). Nhiệm vụ của họ, hiểu một cách ngắn gọn, là bay vòng quanh nước Mỹ vì vô số những yêu cầu cần thiết của cuộc chiến tranh ngày đó.

Mùa xuân năm 1942 ấy, trận tập kích Trân Châu Cảng của hải quân Nhật Bản là một đòn đánh choáng váng, đồng thời cũng là pha "bật công tắc", kích hoạt toàn bộ tiềm lực quân sự của nước Mỹ tại mặt trận Thái Bình Dương. 

Giao tranh trên mặt biển mênh mông ấy, thực tế đòi hỏi quá nhiều nhân lực, để tham gia vô số những công tác. Những nam phi công tốt nhất, không nghi ngờ gì nữa, nối nhau bay vào các cuộc chiến đấu trực diện.

Margaret Phelan Taylor.
Margaret Phelan Taylor.

Phần việc còn lại: huấn luyện, vận tải, thám sát, tìm kiếm, giữ liên lạc quanh bờ biển nước Mỹ, cần phải có thêm "viện binh". Và những nữ phi công thể hiện được đầy đủ khả năng công tác sau kỳ huấn luyện, như Nancy Love, đã ghé vai gánh đỡ nhiệm vụ đó.

Nancy Love chính là người thuyết phục chỉ huy huấn luyện của mình, đại tá William H.Tunner, rằng có rất nhiều nữ phi công có thể tham gia các khóa huấn luyện đó. Mà thực tế, cũng cần phải đào tạo thêm hàng nghìn phi công nữa, nhằm bảo đảm thành công cho các chiến dịch quân sự.

Tunner và Nancy, lúc đầu, tuyển mộ 27 nữ phi công đã có kinh nghiệm bay dân sự, và đẩy họ vào bãi huấn luyện để làm quen với vai trò mới. 

Cũng cần nhấn mạnh rằng, kể từ Amelia Earhart huyền thoại - người nữ phi công đầu tiên trên thế giới một mình bay qua Đại Tây Dương - phụ nữ Mỹ đã có được một biểu tượng, một nguồn cảm hứng, một tấm gương để không đến nỗi quá xa lạ và sợ hãi với việc điều khiển một chiếc máy bay. 

Nguồn cung cấp các nữ huấn luyện viên không đến nỗi quá khan hiếm, trong khi các tố chất sư phạm thiên phú của họ lại vô cùng phù hợp với nhiệm vụ mới. Và chương trình xem như đã thành công ngay từ đầu.

Tunner, được thúc đẩy bởi Nancy Love, mỗi lúc một trở nên tự tin. Đến mức độ, chỉ một thời gian sau, trong mắt ông đã không còn sự phân biệt về trình độ giữa phi công hai giới. Những nữ học trò của ông, cũng như nam giới, được phép bay cao hơn, nhanh hơn, lái những chiếc máy bay lớn hơn, với sức máy ghê gớm hơn.

Nhưng đến cuối năm 1944, khi đà thắng lợi đã nghiêng hẳn về phía phe Đồng Minh (Liên Xô, Mỹ, Anh), khi các cuộc chiến ở châu Âu đã co về sát thủ đô Berlin của Đức Quốc xã, và khi hải quân Nhật đã bị đẩy dạt về phía châu Á để co cụm phòng thủ trong những thành lũy cuối cùng, việc WASP tiếp tục hoạt động để mạo hiểm sinh mạng của những người phụ nữ trở nên không còn cần thiết nữa. 

Chương trình dừng lại. Nhiều nữ phi công lại được chuyển về các hoạt động dân sự. Một số người xuất sắc tiếp tục phục vụ trong Không quân hoặc Hải quân Hoa Kỳ. Tamie Jo Shults là một trong những cái tên đó.

Sau câu chuyện ngày 17-4-2018, giới truyền thông Mỹ ngợi ca bà bằng cụm từ "hệ thần kinh thép". Và họ cũng khẳng định: Nancy Love, nếu còn sống, sẽ vô cùng tự hào.

Mauren Dunlop, một tượng đài của ATA trong khoang lái Spitfire.
Mauren Dunlop, một tượng đài của ATA trong khoang lái Spitfire.

Những chiến công thầm lặng

"Khi chương trình WASP bắt đầu, tôi còn không dám chắc rằng những cô gái ấy có thể lái những chiếc B-17 bay trong thời tiết xấu hay không. Còn bây giờ, năm 1944, những số liệu thống kê đã khẳng định rằng phụ nữ hoàn toàn có thể điều khiển máy bay tốt như đàn ông" - Tư lệnh không quân Mỹ khi ấy, Henry "Hap" Arnold, từng thốt lên như vậy, vào những ngày cuối cùng mà chương trình còn hoạt động.

Những gì mà các nữ phi công đã thực hiện, tuy ít được nhắc đến và còn nhanh chóng bị phủ mờ dưới cát bụi thời gian, thực sự đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng cuối cùng của quân đội Mỹ ở Mặt trận Thái Bình Dương.

Họ chính là người lái những chiếc máy bay xuyên những chuyến bay dài qua cả nước Mỹ: Từ nhà máy sản xuất tới căn cứ quân sự, và rồi tới điểm tập trung để lên đường ra mặt trận. Họ cũng chính là những người thử nghiệm đầu tiên để tìm ra những lỗi, những sai sót, những nguy cơ có thể xảy đến với các mẫu máy bay mới. 

Họ thậm chí còn phải đóng vai "quân xanh" trong các buổi luyện tập bắn đạn thật của các phi công lái chiến đấu cơ. Trong khoảng thời gian hai năm ngắn ngủi ấy, WASP đã trở thành một phần tất yếu của hệ thống huấn luyện quốc phòng Mỹ.

Một trong những nhân vật danh tiếng nhất trong số các nữ phi công của WASP thời ấy, không thể không nhắc đến, là Jacqueline Cochran - người sau chiến tranh trở thành nữ phi công đầu tiên bay vượt qua tốc độ âm thanh. 

Cochran tự đặt cho mình một mục tiêu: Đào tạo càng nhiều nữ phi công càng tốt, hàng nghìn nữ phi công, chứ không chỉ là vài chục người phục vụ các chương trình dành cho nam giới. Bà muốn phụ nữ cũng được đào tạo chuyên biệt trong lĩnh vực quân sự. 

Bà tin rằng điều đó là hoàn toàn khả thi. Và đúng vậy. Khi so sánh những chỉ số về an toàn, không hiếm khi có chuyện chỉ số của các nữ phi công còn tốt hơn những đồng nghiệp nam giới cùng thực thi một sứ mệnh tương tự.

Nhưng, điều gì phải đến cuối cùng cũng đến, vào cuối năm 1944, khiến ngọn cờ giải phóng phụ nữ mà Jacqueline Cochran trên bầu trời không thể tiếp tục được phất lên. 

Vì bầu trời nghĩa là không giới hạn.
Vì bầu trời nghĩa là không giới hạn.

Như nhà nghiên cứu lịch sử Katherine Sharp Landdeck - Giáo sư Sử học trường Đại học Phụ nữ Texas, tác giả cuốn sách viết về WASP mang tựa đề Against Prevailing Winds: The Women Airforce Service Pilots and American Society - nhận xét: "Phụ nữ thay thế đàn ông (trong vai trò phi công) là điều không thể chấp nhận được hồi ấy. Họ có thể góp phần giải phóng đàn ông - đó là vì lòng ái quốc - nhưng thay thế thì không được phép".

Một nhận xét dường như gợi lên khá nhiều khía cạnh, về những tâm tư ẩn sâu dưới lớp vỏ bọc bổn phận đầy hào quang vốn vẫn được nhắc đến đầu tiên khi nói tới các nữ phi công WASP.

Chạm đến bầu trời

Bay đã luôn là một giấc mơ hoang đường ám ảnh loài người, kể từ câu chuyện đau đớn về Icarus với đôi cánh tan chảy giữa tầng không trong thần thoại Hy Lạp. 

Nhưng, có lẽ, với những rào cản giới tính dựng sẵn kể từ buổi hồng hoang của nhân loại, giấc mơ ấy còn ám ảnh phụ nữ hơn nhiều so với nam giới. Không phải ngẫu nhiên, cuộc đời phóng khoáng phi thường cũng như vụ mất tích bí ẩn của Amelia Earhart lại trở thành một nguồn chất liệu vô tận cho văn học hay điện ảnh Mỹ, cho đến tận bây giờ.

Không mang nhiều tính chất thần thoại hay anh hùng ca như vậy, không thể, nhưng cuộc đời của mỗi nữ phi công WASP cũng đều thấm đẫm khát vọng tự do - điều mà sau 70 năm, họ đã không còn phải giấu giếm nữa. 

Họ đã có thể công khai về nó, như Jacqueline Cochran đã mở đường, và qua đó lật lên những bức màn lịch sử, đem ánh sáng soi rọi vào vài góc khuất bình dị.

Như Margaret Phelan Taylor, cô thôn nữ lớn lên ở một trang trại tại tiểu bang Iowa. Năm 1943, Margaret 19 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học. Một hôm, tấm ảnh bìa tạp chí Life, với câu chuyện về những nữ phi công WASP hồi đó, đập vào mắt Margaret. 

Và thế đã là quá đủ để cô sẵn sàng cho những chuyến phiêu lưu. Vả lại, anh trai của Margaret cũng là một phi công đã được huấn luyện, vậy tại sao cô lại không thể?

Nhưng, mọi chuyện không hề dễ dàng. Margaret phải vay cha mình 500 USD - một số tiền rất lớn khi đó - để có thể tham gia khóa đào tạo và nhận chứng chỉ. 

"Tôi nói với cha là tôi phải làm điều đó, và ông đưa tôi tiền. Hình như tôi chưa bao giờ trả lại cho ông", sau này, Margaret Taylor nhớ lại. 

Chưa hết, Margaret thấp hơn nửa inch (tương đương khoảng 1,5 cm) so với tiêu chuẩn tuyển sinh. "Tôi phải nhón chân lên. Và tôi được nhận. Và rồi, khi đến khu huấn luyện, tôi gặp rất nhiều cô gái cũng thấp như tôi. Chúng tôi cười phá lên, vì biết rằng tất cả đã cùng làm một điều như nhau". 

Cao, thấp, thanh mảnh, đẫy đà… tất cả bọn họ đều đã có mặt, cùng chỉ vì một mục tiêu: Làm thế nào để lái được máy bay? Đó giống như cả một nỗi uẩn ức, một niềm khao khát, của không chỉ một cá nhân nào hết.

Vì mục tiêu ấy, họ đã bất chấp tất cả, đã vượt qua những nỗi sợ hãi và những nguy cơ hoàn toàn xa lạ với phụ nữ. Margaret Taylor, trong lần đầu tiên đưa một chiếc máy bay bay xuyên nước Mỹ từ California đến Arizona, thấy khói bốc lên trong buồng lái của mình. 

Bà đã được huấn luyện về việc thoát hiểm nếu có sự cố, nhưng "Dù thì lại được may to quá, không vừa với phụ nữ chúng tôi". 

Bà đành đưa ra một quyết định khác: "Ta sẽ chờ xem có lửa không đã! Đến lúc thấy ngọn lửa thì nhảy dù cũng chưa muộn". "Bà có sợ không?". "Sợ á? Không! Chẳng bao giờ! Chồng tôi sau này còn bảo rất khó dọa được tôi!". Và đến lúc ngọn lửa bùng lên, bà mới nhảy ra ngoài thật. Bà an toàn, còn chiếc máy bay thì cháy rụi sau đó ít phút.

Một nữ phi đội WASP bên một chiếc B17.
Một nữ phi đội WASP bên một chiếc B17.

Hoặc là, bên cạnh Margaret Taylor, có thể nhắc tới Mabel Rawlinson, năm ấy 26 tuổi, đến từ Kalamazoo, một trong những người ngã xuống. Rawlinson được phác họa trong những hồi ức của đồng đội về mình, đầy lấp lánh và cũng vô cùng mộc mạc. 

"Tôi biết Mabel rất rõ. Chúng tôi cùng được lên lịch bay đêm, trên một chiếc máy bay vận tải A-24. Đáng lẽ tôi bay trước, như cô ấy đòi đổi lịch. Chỉ bởi vì tôi chưa kịp ăn tối. Tôi ở trong căng-tin, và nghe thấy một tiếng động khủng khiếp. Chúng tôi chạy ra đường băng. Tôi nhìn thấy chiếc máy bay bị bao trùm bởi ngọn lửa, và nghe được cả tiếng thét của Mabel. Đó quả thực là một cơn ác mộng" - Marion Hanrahan, một cựu WASP khác, hồi tưởng.

Nhưng, đoạn sau của câu chuyện mới đáng chú ý, bởi sự bất nhẫn và chua chát của nó. Mabel, lúc đó, vẫn là một phi công dân sự. Thế nên, quân đội không chi trả cho tang lễ của cô, cũng chẳng trả cả chi phí gửi lại những kỷ vật cuối cùng về nhà. 

Những đồng đội - chị em của Mabel ở WASP góp nhau từng đồng ít ỏi, để làm điều nghĩa tận đó. Có người xin giữ lại chiếc mũ của Mabel, như một chứng tích đau thương.

Trên quan tài của Mabel, dĩ nhiên, không được phủ cờ sao, cũng chẳng có nghi lễ nhà binh nào. Cha mẹ cô phải tự làm điều đó, ở nhà. Mabel, cũng như cả WASP, đã phải chờ tới 65 năm sau khi giải tán chương trình, mới được thừa nhận là một cơ chế quốc phòng mang tính quân sự, và được nhận những vinh dự muộn màng.

Bên kia Đại Tây Dương

WASP không cô đơn. Thật ra, bên kia Đại Tây Dương, những người chị em Anh quốc của họ thậm chí còn đã nhập cuộc sớm hơn họ khá nhiều, trong những nhiệm vụ tương tự. Và thậm chí là nhìn thẳng vào cái chết.

Nếu như không quân Nhật Bản, do những rào cản không thể vượt qua về tiếp liệu, hầu như không có cơ hội dội bom xuống vùng duyên hải nước Mỹ, thì bởi vì chỉ cách một eo biển Manche, không quân Đức Quốc xã, ngay từ đầu Đại chiến thế giới lần thứ hai, đã liên tục trút bom đạn xuống thủ đô Luân Đôn của nước Anh. 

Bối cảnh ấy tạo nên những bản hùng ca đích thực, và ghi dấu cả những gương mặt phụ nữ vào lịch sử "Trận chiến Anh quốc" nổi tiếng này.

Người đầu tiên được chiêu mộ vào Không quân Hoàng gia Anh quốc là Pauline Gower - một tiểu thư trâm anh thế phiệt đúng nghĩa, con gái của cựu Thủ tướng Anh Sir Robert Gower. Nối bước Pauline, hàng trăm phụ nữ Anh cũng xung phong phục vụ cho Cơ quan Hỗ trợ Hàng không Anh quốc (ATA - The Air Transport Auxiliary), với sự thôi thúc của lòng yêu nước cũng như của khát vọng chạm đến bầu trời - một thứ khát vọng dai dẳng không có gì khác biệt so với những người chị em nước Mỹ.

Các nữ phi công của ATA lái cả các chiến đấu cơ khét tiếng Spitfire hay Hurricane, và cả máy bay ném bom hạng nặng Lancaster. Có người, như Mary Ellis, khi kết thúc thời gian phục vụ, đã thực hiện tới hơn 1000 phi vụ, với 74 loại máy bay khác nhau. 

Có người, như Joy Lofhouse, 92 tuổi vẫn quay trở lại buồng lái phục vụ một chương trình truyền hình, và được BBC kính cẩn tặng biệt danh "Spitfire Woman". 

Điều này xuất phát từ thổ lộ thấm đẫm tình yêu của bà, khi gặp lại cỗ máy ấy: "Spitfire là thứ gần gũi bạn nhất mà lại mang đôi cánh của riêng bạn, và có thể bay. Đó là một chiếc máy bay kỳ diệu. Thật khó mô tả cảm xúc này, khi lại có cơ hội bay cùng một chiếc Spitfire lần nữa, sau chừng ấy thời gian xa cách".

Trong ký ức của "Spitfire Woman", những ngày rực lửa của Đệ nhị thế chiến ấy cũng chẳng bao giờ phai mờ. "Đó là công việc tuyệt vời nhất mà tôi có thể có ngày ấy, bởi tôi có thể góp phần làm nên chiến thắng cho Không quân Hoàng gia Anh, cho nước Anh!". 

Nước Anh và Luân Đôn, dù ngói tan gạch nát, vẫn đứng vững sau những trận không kích điên cuồng của không quân Đức. Để rồi, mệt mỏi và muốn tìm một hướng đột phá khác, những đoàn quân Quốc xã trả lại sự bình yên cho bầu trời Anh quốc, tiến quân sang phía Đông, vào biên giới Liên Xô.

Đổi lấy quãng nghỉ vô giá đó, ATA đã chứng kiến không ít những cuộc chia ly, cũng đau đớn như bất cứ cuộc chia ly nào. Amy Johnson, người có mặt trên những tấm poster quảng bá cho lực lượng, gục ngã vì thời tiết xấu ngay bên bờ sông Thames, năm 1941. 

Margaret Fairweather, ra đi năm 1944, khi va chạm với máy bay của một người chị em đến tăng viện từ bên kia đại dương - Mary Nicholson.

Đúng vậy, ở chặng cuối Đại chiến, những bóng hồng trên cánh gió ấy đã gặp nhau, tạo nên những mối liên hệ - những gạch nối bất tử. 

Jacqueline Cochran trở thành nữ phi công đầu tiên lái một chiếc máy bay ném bom băng qua Đại Tây Dương (một chiếc Lockheed Hudson V, hạng nhẹ chuyên săn ngầm), một sự chi viện từ nước Mỹ đồng minh, một chuyến bay mang tính biểu trưng cho việc không quân Đức Quốc xã đã bị đẩy lùi khỏi vùng trời Anh quốc, co cụm về sát hành lang sông Rhine.

Những gương mặt ấy, những tên tuổi ấy, những khát vọng ấy, những cống hiến ấy đã có lúc chìm sâu dưới trầm tích thời gian. Song, chưa bao giờ chúng thật sự bị lãng quên…

Thiên Phong

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?