“Nhặt bóng người”, hay là sự nhòe của cái viết

Tôi có thể khẳng định ngay: Tiểu thuyết “Nhặt bóng người” của Vũ Thanh Lịch là tác phẩm thể hiện, hoặc minh chứng, cho một kiểu nghệ thuật tự sự mà tôi tạm gọi là “sự nhòe của cái viết”.

Ngoài đời, nhà văn Vũ Thanh Lịch là một cán bộ quản lý văn hóa chuyên về mảng các di tích, di chỉ khảo cổ trên quê hương của vua Đinh, vua Lê. Sự trải nghiệm này đã từng thể hiện trong tập truyện ngắn có tên “Nhà thánh” của chị, in vài năm trước, và nó lặp lại lần nữa qua cuốn tiểu thuyết đầu tay mà Vũ Thanh Lịch vừa cho ra mắt độc giả, tác phẩm có tên “Nhặt bóng người” (Tao Đàn & NXB Phụ nữ Việt Nam, 2024. Một trong mười cuốn sách ấn tượng năm 2024 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bầu chọn).

“Nhặt bóng người”, hay là sự nhòe của cái viết -0
Nhà văn Vũ Thanh Lịch.

Tôi có thể khẳng định ngay: Tiểu thuyết “Nhặt bóng người” của Vũ Thanh Lịch là tác phẩm thể hiện, hoặc minh chứng, cho một kiểu nghệ thuật tự sự mà tôi tạm gọi là “sự nhòe của cái viết”. “Nhặt bóng người” kể chuyện một nhà khảo cổ học say mê và tận tâm với nghề đang cùng anh em trong nhóm của mình khai quật tại một di chỉ khảo cổ ở làng Hạ Điền, nơi anh thực hành điền dã lần đầu tiên mấy chục năm trước, khi mới vào nghề, và cũng có thể là nơi sẽ khép lại sự nghiệp khoa học của anh trong lần trở lại này.

Chuyện được kể từ nhiều điểm nhìn tự sự: điểm nhìn của một người kể chuyện giấu mặt, vô danh nhưng luôn biết Trai, tiến sĩ khảo cổ học, đang nhìn, nghe, hành động như thế nào, cảm nhận và suy nghĩ ra sao trước mọi việc; điểm nhìn của những nhân vật xưng Tôi tự kể các câu chuyện của họ, thể hiện qua những đoạn in chữ nghiêng trên trang sách. Có nhiều nhân vật xưng Tôi tự kể như vậy. Đó có khi là Trai, nhân vật chính của tiểu thuyết, có khi là bà chủ và ông chủ lò gốm Diên Vĩ lừng danh từ một thời rất xa rất xưa, có khi lại là một người thợ gốm nữ tài hoa nhưng bạc phận đã chết từ mấy kiếp trước.

Những câu chuyện ấy giao thoa, bện chặt, lẫn vào nhau như những lớp đất cát nằm sâu dưới mặt đất - đó chính là sự nhòe của nó - mà phải thật nhẫn nại và khéo léo, người làm khảo cổ mới có thể bóc tách từng lớp mà nghe những hiện vật, những mảnh vỡ của quá khứ cất lên tiếng nói.

Hóa ra tất cả những cái Tôi tự kể ấy đều có liên quan đến nhau và đều có sự tương tác với nhà khoa học khảo cổ Trai. Hồn ma và người sống gặp gỡ hỏi han nhau, kể chuyện cho nhau nghe, than thân trách phận với nhau, không phải ở không gian âm ty địa ngục, càng không phải ở trong không gian của cuộc đời thực, mà là ở trong những cơn đau, những cơn sốt, những khoảng lạc thần mê sảng của Trai.

Sự đồng hiện quá khứ/ hiện tại ấy tạo nên sự nhòe về mặt thời gian của truyện kể, và mặt khác, như nhấn mạnh thêm tính chất “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” của nhân vật chính, kẻ một đời chuyên chú cho việc đi tìm dấu vết của những thời gian đã mất: “Cầm miếng gốm trên tay, Trai rưng rưng quan sát từng đường nét hoa văn, từng vệt màu đậm nhạt, từ hai khóe mắt, những giọt nước nóng hổi lăn xuống hòa vào nước mưa ánh lên những tia nhìn rực rỡ”.

Có thể nói, thế giới trong “Nhặt bóng người” rất gần, thậm chí dường như là một hình đồng dạng với cái thế giới quen thuộc trong những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương: sự nhập nhoạng giữa cõi âm và cõi dương, giữa ma với người, giữa hư và thực, giữa xưa với nay, giữa những đêm trăng sáng kỳ lạ và những nhân vật bị động kinh hoặc mắc chứng hoang tưởng, tâm thần phân liệt.

Tuy nhiên vẫn có những sự khác, ít nhất ở một điểm: trong tác phẩm của Vũ Thanh Lịch không thể hiện cái “mỹ cảm với bạo lực” như trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Thay vào đó, Vũ Thanh Lịch chuyển hướng chú ý của mình vào công việc của các nhà khảo cổ học, cái giá phải trả cho niềm đam mê và ý nghĩa của sự đào bới, khai quật ký ức chỉ để “nhặt bóng người” trên những viên gạch cũ, như chị đã viết ở trang đầu cuốn sách, trong lời “Thưa cùng bạn đọc”:

“Những câu chuyện được các nhà khảo cổ học đánh thức từ lòng đất đã cộng hưởng, khuếch tán trí tưởng tượng của tôi, thôi thúc tôi viết câu chuyện này... Từ trái tim mình, tôi xin được bày tỏ lòng cảm mến và trân quý với các nhà khảo cổ học, những người đã không quản ngại gian khó dẫn dắt tôi và rất rất nhiều người khác nữa đến gần hơn với ký ức người, ký ức của tổ tiên chúng ta. Và nếu có một điều ước nào đó có thể thành hiện thực, tôi ước mình có thể hiểu được những bóng người, những bóng người chợt thấy rồi chợt xa”.

“Nhặt bóng người”, hay là sự nhòe của cái viết -1
Bìa tiểu thuyết “Nhặt bóng người” của Vũ Thanh Lịch.

Cái tâm sự ấy được hiện thực hóa, được bộc lộ trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của Vũ Thanh Lịch chủ yếu xoay quanh nhân vật Trai, nhà khảo cổ học không chỉ đào sâu vào lòng đất, mà còn biết nghe những câu chuyện dân gian bản địa, biết quan sát những phong tục dân dã xung quanh, biết đọc bản nháp của những nhà nghiên cứu tiền nhiệm - chứ không phải những báo cáo khoa học đã được gọt giũa đến nhẵn nhụi trơn tru - để từ đó chắp nối tư liệu và tự tìm lấy hướng đi, cách giải quyết vấn đề của riêng mình.

Trai yêu nghề và say nghề khảo cổ. Nhưng chính cái sự yêu và say ấy đã khiến cho anh phải trả giá, không phải bằng những nỗi vất vả nhọc nhằn - điều đó có, nhưng không đáng kể - mà bằng một đời sống tình cảm lạnh giá, những cuộc tình chỉ có va chạm thân xác mà không hề có nồng đậm tinh thần, một cuộc hôn nhân rốt cuộc chỉ để dẫn đến ly hôn và một đứa con gái mà anh yêu quý rất nhiều nhưng lại có rất ít thời gian cho nó.

Kể ra thì trong lịch sử đời tư của mình, trái tim Trai đã có một lần run rẩy, ở chính vùng đất này. Ấy là khi anh ngồi cùng với Hiện, cô gái dẫn đường cho đoàn khảo cổ, trong một hang đá giữa đêm mưa. Mưa ngoài hang, bếp lửa tàn trong hang, hơi ấm cơ thể và ánh nhìn cháy bỏng của Hiện đã ám ảnh anh suốt mấy chục năm cho dẫu đêm đó không có gì thực sự xảy ra giữa hai người cô nam quả nữ. Có chăng, nó chỉ đánh dấu sự hy sinh tình cảm cá nhân của Trai cho cái nghề dẫn dắt người đời “đến gần hơn với ký ức người, ký ức của tổ tiên chúng ta”.

Ở phương diện này, có thể nói, nhân vật Trai là một diễn giải khá bất ngờ, thậm chí đặc dị, của Vũ Thanh Lịch về cái được cái mất của những người làm nghề khảo cổ.

Thế nhưng, như chính Tiến sĩ khảo cổ học Trai có lần tự vấn: “Nếu ký ức cũng mất tăm mất tích như mấy xác hoa này... Thì sao nào... Thì sao... Có phải ai cũng có ký ức không. Có bao nhiêu người cần ký ức. Mình có cần không, mảnh đất này có cần không, mình đi tìm ký ức cho mình hay cho ai”.

Đây là những câu hỏi căn bản mang tính mục đích luận - “ký ức thì để làm gì?” - không hề đơn giản và không thể trả lời một lần là xong. Tuy nhiên nó lại dẫn đến một lối rẽ khác, nếu ta chú ý đến câu chuyện của các hồn ma ở những đoạn sau của tiểu thuyết, ấy là việc kiến tạo ký ức bằng sáng tạo nghệ thuật.

Như hồn ma của ông chủ lò gốm Diên Vĩ từng giải thích với Trai: khi con người ta chết đi, là hết, là không còn gì cả, nhưng nếu người ta dồn toàn bộ tài năng, tâm huyết và sức lực của mình để làm ra những tác phẩm gốm đẹp đẽ có một không hai thì cái chết ấy chỉ là cái chết thân xác mà thôi, người ta sẽ sống từ đời này qua đời khác cùng với những món đồ gốm phi thường kia, như thể bóng người đã in dấu vào những viên gạch được nung đủ độ. Đó là một trong những phương cách để tạo nên ký ức, và hơn thế, tạo nên sự vĩnh cửu. (Cho dẫu ký ức ấy, sự vĩnh cửu ấy luôn luôn đòi hỏi phải được trả giá bằng những nỗi đau ghê gớm, mà hồn ma của bà chủ lò gốm Diên Vĩ, kẻ trải qua bao nhiêu kiếp vẫn ôm khư khư cái bình đỏ huyết tuyệt đẹp do người chồng tài hoa của bà làm ra, chính là một ví dụ sống động).

Nói chung, có lẽ đến đây thì câu hỏi “ký ức thì để làm gì?” đã có câu trả lời. Để nhận chân quá khứ bằng những gì còn sót lại - một viên gạch, một mảnh gốm vỡ chẳng hạn - và từ đó, để biết rằng rốt cuộc chúng ta thực sự là ai.

Khép lại bài viết này, tôi muốn nhấn mạnh một ý: “Nhặt bóng người”, tiểu thuyết đầu tay của Vũ Thanh Lịch có thể là một tác phẩm có đủ độ hấp dẫn với cả những độc giả “cứng rắn” lẫn những độc giả “non gan” nhưng lại luôn hiếu kỳ trước tất thảy những gì thuộc về “tâm linh”. Tiểu thuyết mở ra một thế giới ma mị, quái gở và đầy ám ảnh. Một thế giới ma ở lẫn với người và người thì nhiều kẻ nếu không bất thành nhân dạng cũng nghiêng về phía dở dở ương ương (như bà đồng Riêng hay cô Hơn béo ú bán thuốc giả, chẳng hạn).

Một thế giới mưa nhiều hơn nắng, mưa sậm sụt suốt đêm và người ta ngủ mà nước cứ chảy dưới lưng và ngập tràn bờ bãi. Một thế giới thu gọn vào cái đền Hạ khen khét mùi khói hương lưu cữu với một ông thủ từ gầy giơ xương, một thằng bé không cha không mẹ luôn nhảy như choi choi và luôn vô cớ hú hét. Một thế giới mà người lạ (như nhà khảo cổ học Trai) luôn bị lạc đường và cứ mỗi khi bị lạc đường thì lại xuất hiện một con cú mèo cứ đứng nhìn chòng chọc...

Dẫu vậy, đây vẫn là thế giới thực, nơi con người tự bao đời đã lao tác trên đất, lao tác với đất và làm nên cả một ký ức nhiều tầng vỉa, nhiều câu chuyện về nó. Nhiều đến mức một hoặc một vài truyện ngắn độc lập là không đủ đối với người viết. Mà phải là khung khổ của một tiểu thuyết với sự đan dệt, nhòe mờ về không gian và thời gian của những tuyến tự sự khác nhau. Theo tôi, đó là một trong những lý do để Vũ Thanh Lịch bắt tay vào cuốn tiểu thuyết đầu tay này.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).