Nhận chân nền thơ đương đại

LTS: Nhà văn Nguyễn Hiếu là cộng tác viên thân thiết của ấn phẩm Văn nghệ Công an. Được tin ông đột ngột qua đời, chúng tôi rất lấy làm thương tiếc ông. Đây là bài viết cuối cùng ông vừa gửi cộng tác với Văn nghệ Công an trước khi mất mấy ngày. Xin được đăng bài viết cuối của ông như một nén tâm hương tiễn ông về cõi vĩnh hằng.

Cũng cần phải nói thêm, ở số trước chúng tôi có đề cập đến chủ đề “Thơ có cần thiết cho đời sống?”. Bài viết này của nhà văn Nguyễn Hiếu góp thêm một ý kiến đa chiều về thơ đương đại hôm nay, và những lí giải vì sao người yêu thơ, làm thơ vẫn nhiều nhưng độc giả bây giờ ít mua thơ, và sách thơ thường in ra không bán được. Trân trọng!

Tôi còn nhớ cách đây xấp xỉ nửa thế kỉ, khi tôi đã đi làm được ba năm nhưng vốn vừa tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp nên tôi rất mê các tác phẩm văn học trong đó có thơ. Tôi ra hiệu sách ở phố Tràng Tiền tìm mua hai tập thơ mới phát hành của hai nhà thơ có tiếng là Hoàng Trung Thông và Phạm Hổ.

Cho đến bây giờ quả tình tôi chỉ còn nhớ nhan đề tập thơ của Hoàng Trung Thông là “Xa khơi” bởi nó trùng với ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ do ca sĩ Tân Nhân trình bày rất hay. Còn tập thơ của Phạm Hổ thì ngay cả đầu đề tôi cũng quên mà tôi chỉ nhớ câu thơ ca ngợi N.Khơ rút xốp “Áo như trời xanh, tay như bồ câu” vì sự dị dị của nó.

Ngay cả hai tập thơ theo tôi có thể xem là không hay đó mà bán rất chạy, bởi ngay hôm sau tôi mua, cô bán hàng thông báo đã bán hết. Những tập thơ chất lượng bình thường như thế vào những năm đầu của thập niên 70 của thế kỉ trước còn hút được độc giả như vậy thì các tập thơ danh tiếng như “Ánh sáng và phù sa”, “Bài thơ cuộc đời”, “Gió lộng “… sẽ tạo ra sức tiêu thụ đến thế nào.

nhà thơ chế lan viên với những tác phẩm có giá trị.jpg -0
Nhà thơ Chế Lan Viên và những cuốn sách quý của ông.

Nhìn chung thơ tự in bây giờ có hình thức bắt mắt hơn, đó là chưa kể không ít tập thơ lại có những bài bình mà đa phần là tán của không ít các nhà phê bình, các nhà thơ có danh. Cũng phải công nhận là nhiều tập đạt mức trung bình trở lên. Nhưng tại sao thơ trước kia có sức hấp dẫn với bạn đọc còn thơ bây giờ bị thờ ơ trên kệ sách bán.

Thời kì thơ còn hấp dẫn người đọc chính là những tháng năm đất nước ta vừa dành độc lập sau cuộc kháng chiến vệ quốc lần thứ nhất, chuyển sang giai đoạn hòa bình xây dựng và đấu tranh thống nhất đất nước, rồi chẳng bao lâu cả hai miền đều lao vào cuộc chiến tranh. Miền Bắc vừa chi viện cho miền Nam “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” lại phải gồng mình chống chiến tranh phá hoại bằng không tặc của Mỹ. Ở miền Nam cuộc chiến tranh chống Mỹ và bè lũ tay sai dần dần ác liệt. Đó là chưa kể suốt những tháng năm dài dằng dặc đó nền kinh tế và đời sống của nhân dân ta vừa san sẻ cho miền Nam ruột thịt lại vừa bị chế độ bao cấp buộc thít.

Thơ là thể loại trữ tình tự bạch về trạng thái tâm hồn mình trước sự vật, xã hội, con người xã hội…. Nhưng ý thức công dân trong giai đoạn đó đều trở thành tâm sự thường trực trong mỗi nhà thơ nên dường như tất cả các sáng tác thơ giai đoạn này đều mang cái chung của người Việt Nam với tâm cảm của dân tộc đang vượt khó xây dựng đất nước, và vì miền Nam ruột thịt. Không ít bài thơ đã nhẩy từ lãnh địa của thể loại trữ tình sang lãnh địa của thể loại tự sự kiểu như bài “Anh Tài Lạc” của Huy Cận, và ngay trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” thì tác giả “Lửa thiêng” cũng có nhiều bài thơ tự sự tương tự. Những yếu tố cá nhân trong thơ giai đoạn này bị lấp khuất sau cảm hứng công dân kiểu như câu thơ của Chế Lan Viên viết về Hồ Chủ Tịch:

Tôi đến Nha Trang ngắm trời bể đẹp
Có hay đâu hang Pắc Pó gió lùa
Giường lãnh tụ là hai hàng đá ghép
Mảnh áo chàm Bác mặc quá đơn sơ.

Thơ dạo đó đẩy cảm hứng cá nhân lùi sau những bức xúc, mối quan tâm đến cuộc sống, xã hội. Hay nói đúng hơn cảm xúc cộng đồng hòa cùng với cảm xúc riêng của nhà thơ. Trong khi dân ta đa phần là những người quan tâm đến thời cuộc, đến cái chung. Thêm vào đó các tác phẩm thơ dạo đó lại thường được các cơ quan ngôn luận trong đó phải kể đến Đài Tiếng nói Việt Nam với tiết mục Tiếng thơ hàng đêm với giọng ngâm tha thiết của nghệ sĩ Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm… đã khiến thơ được chú ý và người yêu thơ càng nhiều.

Giai đoạn đó không ít nhà thơ đã từng nổi danh về chất công dân như Chế Lan Viên với các bài thơ trăn trở về Bác kính yêu được tập hợp trong tập “Ánh sáng và phù sa”, hay từng được mệnh danh là thi sĩ của đường Trường Sơn như Phạm Tiến Duật với hàng loạt bài thơ nổi tiếng như “Tiểu đội xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Nghe em hát trong rừng”… In trong tập “Vầng trăng quầng lửa”.

Ngay đến các thi sĩ chuyên thơ tình trong thời kì thơ mới giai đoạn đó cũng ít nhiều từ bỏ sở trường thơ của mình để đến với các đề tài mang nặng chất hiện thực cuộc sống. Xuân Diệu dừng “thơ thơ”,”Gửi hương cho gió" để đến với “Dưới sao vàng”, “Ngôi sao”, “Cầm tay”, “Riêng chung” …để viết những bài thơ “Em đi tuyến lửa”, “Gửi Nam bộ mến yêu “Ngói mới”, “Cao”, “Trước cổng nhà máy xay”… Huy Cận xa rời “Lửa thiêng” ,”Vũ trụ ca”… đến với “Trời mỗi ngày lại sáng”, “Đất nở hoa”, “Bài thơ cuộc đời”… để viết “Đoàn thuyền đánh cá”, “Các vị La hán chùa Tây Phương”, “Ta viết bài thơ gọi biển về”, “Nhớ mẹ năm lụt”, “Anh Tài Lạc”…với những cảm xúc cùng những câu thơ chan chứa hiện thực và cuộc sống quần chúng - cái chung như thế nên thơ thế hệ cũ, giai đoạn trước ba thập niên trên tạo được lòng mến mộ của quần chúng . Còn thơ hiện nay?

Nguyên nhân sự quay lưng với thơ của người đọc bắt đầu từ việc suy sụp của văn hóa đọc không đủ sức cạnh tranh với các phương tiện giải trí, truyền thông hiện đại. Thứ hai thơ giai đoạn này đa phần là những cảm xúc riêng tư với những đề tài quá cũ, không gắn bó gì đến suy nghĩ, tâm tư của con người trong giai đoạn kinh tế thị trường, trong thời buổi xã hội có nhiều biến động. Một vài nhà thơ tìm đến những đề tài lớn như tình yêu Tổ quốc, nhưng lại tạo ra các bài thơ với những câu từ sáo rỗng gần giống như khẩu hiệu. Về nghệ thuật thì hơn ba thập kỉ nay chưa có sáng tạo nào mới, chưa có nhà thơ nào nổi trội. Các nhà thơ, kể cả các nhà thơ có tiếng đều dường như chưa tạo ra phong cách riêng, họ viết ra những bài thơ từa tựa nhau “giống như người lính nhìn từ đằng sau” từ cảm hứng, tứ thơ, cách chọn từ, đặt câu, cấu trúc… Hiện tượng thơ “lẫn”, thơ “giống nhau” ngày càng phổ biến.

Chính các nhà thơ cũng nhận ra sự nhàm chán bởi sự lẫn, cũ và xuống cấp trong thơ nên không ít nhà thơ đi tìm sự thay đổi, dị biệt cho thơ mình từ việc mô phỏng lại cách viết trong thể phú ở văn học cổ điển (thơ văn xuôi), đến việc nghĩ ra các thể thơ lạ như thơ “năm câu, sáu câu, đa thanh”. Nhưng họ quên một điều, thể thơ không phải do nhà thơ nghĩ ra mà nó hình thành từ thực trạng, thể chế xã hội.

Một trật tự đỉnh cao của phong kiến thời nhà Đường mới tạo nên thể thơ Đường luật. Một sự thắng thế của phái võ sĩ đạo mới tạo ra thể thơ Haiku. Một nền văn hóa lúa nước và đặc trưng ngôn ngữ Việt Nam mới sinh ra thơ lục bát. Cũng cần kể thêm nguyên nhân làm thơ bị độc giả quay lưng vì nền phê bình văn học nói chung và phê bình thơ nói riêng hầu hết các bài phê bình thơ hiện nay là những bài giới thiệu sách, nặng về tán tụng, vuốt ve mà thiếu hẳn sự mổ xẻ, phân tích thấu đáo, hai chiều.

Trong khi gần hết các nhà thơ lặn ngụp trong các đề tài riêng tư, thậm chí khi viết về những đề tài lớn thì đa phần vẫn không thoát khỏi sự phô diễn những trăn trở cá nhân không gắn gì với suy tư, sự quan tâm của quần thể xã hội, nỗi bức xúc của con người trước thực tế, đặc biệt là những ngang trái, bất công ngược với lòng người. Chính sự ẩn mình quá sâu trong sự riêng tư này nên hầu hết các nhà thơ luôn vuốt ve, đánh bóng cảm xúc của mình bằng những vần thơ, câu chữ vô hại chỉ để phản ảnh mặt đẹp, mặt thuận chiều của cuộc sống, của xã hội. Điều này không chỉ ở thơ mà ở nhiều thể loại khác của văn học nước ta ba thập niên qua.

Trong khi sự vật bao giờ cũng hai chiều, nhiều chiều. Sự đơn điệu né tránh sự phức tạp của đối tượng phản ảnh đã khiến văn chương nước ta không có được những tác phẩm lớn, trong đó thơ lại càng bị độc giả chối từ. Hai cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta không có những tác phẩm lớn, hoặc những tác phẩm lớn chưa được phát hiện cũng vì điều này. Sau chiến tranh, độc giả thế giới rất muốn biết thực tế xã hội ta ra sao, tâm trạng người Việt với những vết lằn của chiến cuộc ra sao cũng không được mô tả đầy đủ, thuyết phục. Tác phẩm văn chương nước ta trong đó có thơ không tạo ra được những tác phẩm xứng đáng với thời đại, con người Việt Nam chính vì lẽ đó. Đó chính là nguyên nhân khái quát khiến thơ nguội lạnh trong lòng người đọc.

Quỳnh Mai - Chèm tháng 1/2023

Nguyễn Hiếu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).