Nhà văn Vũ Thảo Ngọc: Từ đêm chuyển mùa

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc kể: “Tối hôm ấy, khi ngồi trực vận hành máy bơm nước bên bờ moong, ngồi nhìn bầu trời đen kịt, dấu hiệu báo trước những trận mưa rào xối xả sắp đến, tôi vô cùng bồn chồn lo lắng vì nếu không kịp bơm thoát nước thì cả lòng moong đang khai thác than sẽ ngập trong biển nước”.

Trong cảm giác thao thức ấy, cô thợ vận hành máy bơm Vũ Thảo Ngọc đã không dám nghỉ, cô tự nhiên cầm lấy cây bút và những câu chữ cứ thế tuôn trào. Truyện ngắn “Đêm chuyển mùa” được hình thành. Vũ Thảo Ngọc cười: “Không dè đó là lại truyện ngắn đầu tay của tôi”. Tôi cũng cười góp: “Đúng là một sự chuyển mùa không gì tuyệt vời hơn để biến một cô thợ điện trở thành một nhà văn của vùng mỏ Quảng Ninh”.

a.jpg -0

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc vốn quê gốc ở làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Cô cho hay: “Từ nhỏ tôi đã yêu thích văn chương bởi được sinh ra ở một làng quê nổi danh “đệ nhất khoa bảng”. Mặc dù cha mẹ quanh năm chỉ làm ruộng (làng Mộ Trạch đến giờ vẫn là làng thuần nông) nhưng truyền thống hiếu học và đỗ đạt của làng đã gieo vào tôi những con chữ”.

Kể cũng lạ kỳ, năm vừa tròn 18 tuổi, cô học trò làng khoa bảng nộp đơn vào Trường Cơ điện Chí Linh (nay là Trường Đại học Sao Đỏ, TP Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Cô được nhận vào trường và được phân học ngành điện dân dụng. Ra trường năm 1987, cô trở thành thợ điện ở Mỏ than Cọc 6. Mỏ than Cọc 6 là một mỏ than lộ thiên, công việc khai thác than tuy không khó khăn như các mỏ hầm lò nhưng lại bị tác động rất nhiều bởi thời tiết. Cả công trường khai thác than là một lòng moong rộng mênh mông và cũng sâu hun hút. Bởi thế những cơn mưa rào mùa hạ bao giờ cũng là một “kẻ thù” của công việc.

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc cho biết thêm: “Tối hôm tôi viết “Đêm chuyển mùa” cũng là buổi tối của tiết Cốc vũ. Tuy mỏ đã có những phương án để đảm bảo việc khai thác than trong lòng moong được bình thường nhưng ai dám chắc an toàn khai thác đã được đảm bảo. Bởi công tác vận hành bơm thoát nước cũng phụ thuộc nhiều vào máy móc và nhất là phụ thuộc vào trách nhiệm và sự kịp thời của người vận hành”.

Nghe cô kể thế tôi thấy ái ngại: “Kể thì đàn bà con gái làm vận hành máy bơm thoát nước có khi còn khó khăn hơn cánh đàn ông đào than, xúc đất ấy nhỉ? Và không hiểu sao lại liên quan đến viết văn được?”. Nhà văn Vũ Thảo Ngọc nói: “Cũng bình thường thôi mà”. Nghe cô nói bình thường thôi nhưng tôi hiểu chính từ sự trăn trở và tinh thần trách nhiệm của một người thợ đã có 10 năm sống và làm việc tại mỏ đã thôi thúc cô cầm bút viết. Truyện ngắn “Đêm chuyển mùa” thực sự là một dấu hiệu báo hiệu rõ ràng về một nhà văn tương lai khi cũng từ đó cô thợ điện Vũ Thảo Ngọc hăm hở bước vào nghề viết văn.

Và cứ như là một “cỗ máy” đã được vận hành trơ tru, cô thợ điện trẻ đã trình làng tập truyện ngắn đầu tay mang tên “Đêm chuyển mùa”. Tập truyện đó được NXB Phụ nữ ưu ái “đỡ đầu” và cho ra mắt năm 1997. Và tập truyện ngắn ấy như là một bài thi để cô được đặt chân vào Trường Viết văn Nguyễn Du. Cô học Khóa 6, khóa cuối cùng đào tạo viết văn theo mô hình của Trường Viết văn M.Gorky bên Liên Xô.

Bốn năm cần mẫn “mệt mài kinh sử”, Vũ Thảo Ngọc ra trường và “báo cáo tốt nghiệp” bằng cuốn tiểu thuyết “Ba người đàn ông”. Sách do Nhà xuất bản CAND ấn hành năm 2003. Tôi trót lỡ mồm: “Những ba người đàn ông nên thảo nào”. Cũng may là tôi kịp khép mồm lại. Nhà văn Vũ Thảo Ngọc cười rất vui, cô nói: “Nhiều quá hả anh?” - Nói rồi cô lại nói thêm - Vậy nên đến giờ em vẫn một mình với “Ba người đàn ông” ấy anh ạ”.

Tôi vội lảng sang chuyện khác: “Dịp trước Tết vừa rồi anh có về làng Mộ Trạch của cô đấy. Làng mình vẫn vậy, đường vào làng chạy dọc giữa hai cánh đồng lúa. Hôm anh về làng thì cũng là dịp bà con mình đang thu hoạch lúa. Nhìn đâu cũng một màu lúa chín vàng rực. Thảo nào làng mình vẫn làm ruộng cho dù được biết huyện Bình Giang nhà cô hiện đã công nghiệp hóa tới hơn bảy mươi phần trăm. Cũng có nghĩa là người trồng lúa giờ rất ít. Thích nhất là về làng được ăn cơm gạo mới đúng nghĩa”. Nhà văn Vũ Thảo Ngọc lại cười (cô thường cười rất thoải mái), cô bảo: “Ăn cơm gạo mới làng em dễ quên đường về nhà lắm”.

c copy.jpg -0
Một số tác phẩm của nhà văn Vũ Thảo Ngọc.

Sau khi rời mái Trường Viết văn Nguyễn Du, Vũ Thảo Ngọc về lại “tỉnh nhà”, tức là cô trở lại vùng mỏ Quảng Ninh, làm biên tập viên ở Báo Hạ Long. Chả là ở các tỉnh, tờ báo văn nghệ đều được xác định là tạp chí nhưng ở Quảng Ninh thì khác. Mảnh đất bên bờ Hạ Long xinh đẹp này vốn là “đất phát” cho những nhà văn, những ca sĩ, hay nói cách khác thì Quảng Ninh là “cái nôi” sinh ra nhiều văn nghệ sĩ tài năng và tâm huyết. Tôi bảo: “Đúng là khi em thi vào Trường Cơ điện mỏ năm xưa giờ nghĩ lại thấy vô cùng “khôn”. Em được sống và được cống hiến ở vùng đất sản sinh và nâng tầm cho những người say mê văn học nghệ thuật”.

Chính những tháng ngày sáng tác và sống cùng không khí sôi nổi ở “vùng than thân yêu ơi” ấy, cây bút trẻ Vũ Thảo Ngọc đã trưởng thành lên rất nhiều. Cô vừa viết văn vừa phấn đấu công tác cho đến chức Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Quảng Ninh. Những tưởng như thế là ổn nhưng cô gái năng động này đâu chịu ngồi yên. Cô đầu quân làm công tác truyền thông cho Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam năm 2007. Thế là nhà văn Vũ Thảo Ngọc lại có dịp được chạy đi chạy lại giữa Quảng Ninh và Hà Nội.

Tôi hỏi xen ngang: “Vậy có thường xuyên về thăm làng Tiến sĩ của mình không đấy?”. Nhà văn Vũ Thảo Ngọc nói luôn: “Có chứ anh. Chính nhờ sự khích lệ của truyền thống hiếu học và đỗ đạt của làng mình thì em mới có được như ngày hôm nay chứ”. Cô còn cho hay: “Tuy làm công nhân vận hành máy bơm thoát nước nhưng em có được cơ hội thường xuyên nghe đài truyền thanh của mỏ”. Thì ra, ở vùng than phong trào văn hóa văn nghệ rất sôi động với những câu lạc bộ công nhân. Những câu lạc bộ này là nơi để nhiều công nhân chính hiệu nhưng vô cùng yêu thích văn hóa nghệ thuật gặp nhau cùng trao đổi, cùng học hành và cùng sáng tạo. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa và ca sĩ đã từ những câu lạc bộ này đi lên. Và một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa đó là hệ thống đài truyền thanh của mỏ. Những buổi “lên sóng” của đài truyền thanh mỏ ngoài thông tin về tình hình và tiến độ lao động ra còn có những buổi đọc các tác phẩm văn học.

Cô thợ điện Vũ Thảo Ngọc đã thử sức, hay nói cách khác là thử bút của mình bắt đầu bằng những mẩu tin, những bài viết phản ánh công tác lao động khẩn trương của anh chị em công nhân. Được đà, Vũ Thảo Ngọc viết tin bài nhiều hơn. Cô gửi cho đài truyền thanh mỏ, rồi gửi cho các báo và đài tỉnh. Từ viết tin bài, cô mạnh dạn viết văn xuôi. Truyện ngắn “Đêm chuyển mùa” - tác phẩm đầu tay thực sự là một “tín hiệu” tốt để Vũ Thảo Ngọc viết văn xuôi nhiều hơn. Cô bảo: “Chính là nhờ các hoạt động văn hóa văn nghệ diễn ra thường xuyên và sôi nổi ở vùng mỏ đã khích lệ em viết văn”.

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010, đã xuất bản trên 20 đầu sách, bao gồm các tập truyện ngắn, tập tiểu thuyết, tập thơ và các tập ký. Dường như các thể loại văn học cô đều viết và viết thành công. Về sự thành công phải kể đến các giải thưởng mà cô được nhận. Đó là Giải B do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trao năm 2010 cho tiểu thuyết “Ba người đàn ông”; Giải thưởng về ký, bút ký do Báo Văn nghệ và Tạp chí Văn nghệ trao trong các năm từ 2008 đến 2009. Rồi Giải Nhì (không có Giải Nhất) năm 1996 cho tập truyện thiếu nhi “Hoa huệ tây viết lỗi”.

Còn có một “giải thưởng” nữa dành cho cô, đó là tính cho đến hiện nay nhà văn Vũ Thảo Ngọc là nữ nhà văn duy nhất ở Quảng Ninh và cũng là “nữ tiểu thuyết gia” duy nhất ở vùng mỏ. Cô là nhà văn công nhân chính hiệu bởi cô trưởng thành từ người lao động trực tiếp ở vùng mỏ. Nhà văn Vũ Thảo Ngọc hiện đảm nhiệm vai trò là Chi hội phó Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Quảng Ninh, Chi hội trưởng Chi hội Văn học của Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).