(Đọc tập thơ "Cho vĩnh cửu mùa thu" của Phạm Duy Nghĩa, NXB Văn học - 2021)

Nhà văn Phạm Duy Nghĩa và lối tắt vào thơ

Ít người biết còn có một Phạm Duy Nghĩa lặng lẽ làm thơ, từ những năm tháng sinh viên cho đến khi thành một thầy giáo ở vùng cao. Tháng 4/2021 vừa qua, anh đã cho xuất bản tuyển thơ đầu tay của mình với tên gọi "Cho vĩnh cửu mùa thu", gồm 30 bài thơ.

Trong làng văn, Phạm Duy Nghĩa được biết đến như một cây viết truyện ngắn đã có nhiều thành tựu với bề dày hơn 20 năm sáng tác. Từ năm 2002 đến nay, anh đã in 4 tập sách, trong đó, truyện ngắn "Cơn mưa hoa mận trắng" từng giành giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Tuần báo Văn nghệ 2003 - 2004. Thế nhưng, ít người biết còn có một Phạm Duy Nghĩa lặng lẽ làm thơ, từ những năm tháng sinh viên cho đến khi thành một thầy giáo ở vùng cao. Tháng 4/2021 vừa qua, anh đã cho xuất bản tuyển thơ đầu tay của mình với tên gọi "Cho vĩnh cửu mùa thu", gồm 30 bài thơ.

Như lời tác giả tự bạch trong phần mở đầu thi tập, những bài thơ này được in ra như để lưu giữ lại chút "ký ức dịu dàng" cách đây đã 20 năm với không ít "những non xanh, vụng dại". Và hầu hết những bài thơ đều được viết trong năm 2000. Thế nhưng, sau khi đọc hết 30 bài thơ, tôi nhận ra một phẩm chất thi sĩ đích thực của Phạm Duy Nghĩa với hồn thơ tươi sáng, trong ngần đã mang đến cho độc giả một hơi thở mát lành như sương mai, như những cơn mưa, giọt nắng ở vùng cao mà anh từng đi qua…

Tình yêu trong thơ Phạm Duy Nghĩa hầu hết là những ký ức. Bao kỷ niệm dội về lúc xa lúc gần, mang nhiều nuối tiếc. Nhưng ngay khi tất cả những mối tình đều tan vỡ, dang dở thì trong thơ anh, sự dang dở đó vẫn đẹp lạ lùng: "Ngày tôi đi dằng dặc triền sông/ Hoa cải tiễn, hoa cải cười, hoa cải khóc/ Nghe đắng ngọt phấn hoa vàng trên tóc/ Tuổi thơ xưa trinh trắng mãi xa rồi". (Nỗi buồn hoa cải). 

Nhà văn Phạm Duy Nghĩa.
Nhà văn Phạm Duy Nghĩa. 

Thi sĩ cố gắng nắm bắt một hư ảo trong tình yêu nay đã không còn, cũng có thể mối tình ấy chỉ là một mơ ước để con người mãi ngóng chờ, nhưng không khi nào tắt một niềm tin. Những giãi bày ấy làm cho chúng ta xúc động: "Đêm sa mạc với nhiều ảo ảnh/ Em là sương xanh mộng trăng ngần/ Bao giờ hỡi nỗi buồn ngưng kết/ Chảy ngọt ngào tan tuyết lạnh mùa xuân/ Anh rực lửa. Em mong manh hạt nước/ tan nhòa mây. Lại trống trải sinh thành/rạo rực chiều nay vườn trở ấm/ Phải em về lặng lẽ tìm anh…". (Ảo ảnh).

Có một chùm những bài thơ như tái hiện những năm tháng sống và làm việc tại vùng cao. Có những bài thơ 5 chữ thật trong lành, hồn hậu với đất và người. Có lẽ đó là những tháng năm rực rỡ không thể nào quên trong lòng tác giả: "Ơi em gái Hmông/ tối nay còn đến học?/ Hương quả thơm quện tóc/ bay khắp rừng mênh mang/ Bước theo ngựa vội vàng/ Em ngoái nhìn, e ấp/ Hương quả hay hương đất/ Hồn cây hay hồn người". (Mùa thảo quả). 

Những câu thơ cho ta thấy yêu thêm nghề dạy học, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống mỗi ngày: "Nhớ cô giảng hôm nào/ "nước Việt mình đẹp mãi/đủ bốn mùa cây trái"/ em thầm ước bên vườn/ Xin xuân hạ chút hương/ Điểm sắc vàng thu nữa/ sớm này em gõ cửa/ tặng cô cả bốn mùa". (Bốn mùa). 

Thăm lại thầy giáo cũ, Phạm Duy Nghĩa cũng viết được những câu thơ thật cảm động về ân tình của người thầy. Không chỉ vì những năm tháng đã được thầy truyền thụ kiến thức mà còn vì người thầy vẫn luôn dõi theo tất cả những bước đường của học trò: "Lối xa về thầy lại đưa chân/ Lời thủ thỉ sưởi quãng đường ấm áp/ Thơ dần hiện giữa nền đêm đen bạc/ Man mác hồn cốm xanh". (Với thầy, đêm trở gió).

Tự thừa nhận mình thuộc một thế hệ lớn lên "trong từ trường của văn hóa, văn học Xô - viết", Phạm Duy Nghĩa có một số bài thơ lấy cảm hứng từ các tác phẩm văn học Nga hoặc các nghệ sĩ Nga. Đó là các bài: "Tâm hồn" (Đọc Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy), "Trước Levitan", "Lá thư từ Ukraine", "Tiếng còi tàu đêm" (theo truyện Cây phong non trùm khăn đỏ của Aitmatov). 

Tôi đã gặp ở đây những câu thơ thật đẹp: "Những người vợ âm thầm khó nhọc/ Nghiêng giọt sữa bò nuôi sống cả nước Nga" (Trước Levitan), "Trắng cơn mơ ánh chớp trên đồng/ Mùi rơm ngái và mùi hoai đầm phá/ mối tình chín suốt mùa hè óng ả/ đêm mơ màng xanh ngát bụi trăng ngân" (Lá thư từ Ukraine). Không có một tâm hồn thánh thiện và chân thành, người ta không thể viết được những câu thơ như thế. 

Dĩ nhiên thơ Phạm Duy Nghĩa còn có cả chất lãng tử bát ngát phiêu du, được thể hiện khá kín đáo: "Nay nhớ thương anh gọi thầm "em gái"/ Xin đốt thư này, trao gió, gửi tìm em". (Kỷ niệm), "Lá biết đời mình thoáng nhẹ như mơ/ Kìa sợi gió, thung sâu xanh thẳm nhắc/ thầm lặng thế lá ơi dù khoảnh khắc/ thêm chút vàng cho vĩnh cửu mùa thu". (Chiếc lá). 

Độc giả còn có thể tìm được sự đồng cảm với Phạm Duy Nghĩa trong những câu thơ viết về mẹ. Thơ về mẹ của Phạm Duy Nghĩa rút ngắn khoảng cách không gian và cho ta được ngược dòng thời gian tìm về với tuổi thơ: "Cuối chiều đông/ Mẹ tôi đốt lá/ Khói xanh mơ nhòa nhạt nhuốm làng/ Hư ảo quá/ Chiều êm đềm cổ tích/ Đưa nhớ về xa vời mênh mang". (Lâu đài cát), "Mẹ thương thằng bất hiếu/ Suốt một đời đi hoang/ Xin hoa chở mùa sang/ Thay tôi mừng tuổi mẹ/ Hương hoa thoáng ngậm ngùi/ Ấm lại thời son trẻ/ Xin hoa vàng rơi khẽ/ trên mái đầu mẹ tôi/ hắt hiu chiều gió buốt/ khóc ngày xưa xa rồi". (Vườn mẹ).

Dù viết văn hay làm thơ, theo tôi, Phạm Duy Nghĩa có một ý thức mãnh liệt về sáng tạo. Bài thơ "Cảm hứng" trong tập với lời đề từ của Paustovsky: "Ý sáng tác như một tia chớp" có thể coi là một tuyên ngôn sáng tạo của anh: "Giữa mênh mông hỗn tạp ngôn từ/ Ý tưởng hiện khi nào chẳng rõ/ Giọt lân tinh lúc mờ lúc tỏ/ Khi chói lòa xanh ngát vệt sao băng/ Trong mơ hồ văng vẳng thanh âm/ Câu chữ ló như trái dần đỏ nắng/ Triệu tế bào căng thẳng/ Vũ trụ nhòa trôi rơi/ Le lói rừng đêm đốm lửa trêu ngươi/ luôn trước mặt đi hoài mà chẳng đến/ chuyện muôn thuở trốn tìm nhọc mệt/ trong vòng tay ma quái của ngôn từ".

Bìa tập thơ "Cho vĩnh cửu mùa thu" của nhà văn Phạm Duy Nghĩa.
Bìa tập thơ "Cho vĩnh cửu mùa thu" của nhà văn Phạm Duy Nghĩa.

Tôi cho rằng, nếu tiếp tục làm thơ, Phạm Duy Nghĩa sẽ tạo ra một giọng điệu và vị trí riêng của mình. Thơ Phạm Duy Nghĩa mang phong vị cổ điển, chinh phục người đọc bằng cảm xúc chân thành, tự nhiên, trong sáng, có đủ chiêm nghiệm của một người từng trải, có sự nghiêm cẩn của một ông giáo và cả chất lãng tử của một thi sĩ phiêu bạt. Các hình ảnh, biểu tượng trong thơ Phạm Duy Nghĩa mang tính chuẩn mực và dễ cảm nhận với số đông độc giả. Thơ được chú trọng cả về vần và nhịp điệu, từ nhạc tính mỗi khổ thơ cho đến tổng thể toàn bài, dù bài thơ được viết theo hình thức tự do hay sự đều đặn về số chữ của mỗi dòng thơ.

Có một bài thơ đặc biệt của anh mà tôi muốn dùng để khép lại bài viết nhỏ này. Đó là bài "Nửa đêm thăm căn nhà cũ". Nếu như trong khá nhiều bài của tập, hiện lên chất "Xô- viết" rất đậm đặc, từ đề tài cho đến các hình ảnh, điển tích, câu chuyện; thì bài "Nửa đêm thăm căn nhà cũ" lại cho ta đậm một cảm thức phương Đông: "Trăng soi lối cũ căn nhà cũ/ Mười năm tìm lại tiếng đàn/ ngơ ngẩn nỗi niềm Từ Thức/ tiêu điều gió lộng vườn hoang/ Có phải thi nhân sầu thế thái/ Hoa thì hay héo cỏ thường tươi/Thuyền đã dời neo đàn đứt tiếng/ Đâu bến trong lành đâu gió khơi?/ Hay đã lầu hoa xanh tiếng nhạc/ Câu thơ im ngủ dưới chân giày/ Trăng về lủi thủi nơi triền bãi/Ai khác xưa rồi ai có hay?/ Tán bàng cuối nhuộm đông đỏ tía/ Âm thầm trút lửa vào đêm/ Nhà xưa lá phủ im lìm/Chỉ còn trăng đọng trắng thềm bâng khuâng…". 

Cảnh cũ chốn xưa người xa vắng vốn là một thi đề quen thuộc trong văn chương cổ điển, từ Lý Bạch của đời Đường đã có những nỗi niềm như thế: "Em còn ở đầy nhà hoa ngát/ Em đi rồi ngơ ngác giường xưa". (Ký viễn, Nguyễn Bính dịch). 

Đến thời hiện đại, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng có những xúc cảm rưng rưng với căn nhà cũ: "Cho tôi đứng chút thôi trước căn nhà cũ ấy/ Sáng mai thôi nó hóa thân rồi/ Cho tôi nghe tiếng rì rầm của bức tường long lở/Của mái ngói rêu phong/ Của ấu thơ bàn tay đầy mực tím/Tôi từ giã bao lần những áo quần mặc chật/Những nỗi buồn cho tôi lớn lên/ Nhưng lần này trước căn nhà cũ nát/ Trái tim tôi thành viên gạch trên tường". (Căn nhà xưa). 

Nhưng điểm độc đáo ở bài thơ của Phạm Duy Nghĩa, theo tôi, không phải thi sĩ nhớ nhung và tìm kiếm một tha nhân mà con người ấy đang đi tìm lại chính bản thân mình, tìm lại những khát vọng và nỗi niềm một thuở. Nào là ước mơ Từ Thức xa vời, nào là đau đáu thế thời qua câu thơ Nguyễn Trãi (Hoa thường hay héo cỏ thường tươi). Toàn bài tràn ngập những câu hỏi tu từ, nhạc tính réo rắt uyển chuyển dẫn dụ người đọc với những câu thơ gây nhiều dư ba, độc đáo trong diễn đạt: "Hay đã lầu hoa xanh tiếng nhạc/ Câu thơ im ngủ dưới chân giày/ Trăng về lủi thủi nơi triền bãi/ Ai khác xưa rồi ai có hay?". Và rồi tác giả bất ngờ khép lại thi phẩm bằng một câu lục bát mềm mại, mênh mang: "Nhà xưa lá phủ im lìm/ Chỉ còn trăng đọng trắng thềm bâng khuâng…". Cái hay cái đẹp của bài thơ đã chạm vào mạch cổ điển trong thi ca dân tộc và có thể xem đây là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của tập thơ này.

Phạm Duy Nghĩa khá khiêm nhường khi nhận mình là một người văn xuôi làm thơ. Anh cũng không định bước tiếp với thơ mà chỉ coi thi tập này là một kỷ niệm. Nhưng theo tôi, thơ hay không cần phải viết nhiều, bởi như người xưa đã nói: "Quý hồ tinh bất quý hồ đa". Trong một lần dạo chơi ngang qua khu vườn thơ, Phạm Duy Nghĩa đã nán lại ít lâu, tặng cho đời một chùm hoa ngát hương nhiều màu sắc. Chúng ta còn đòi hỏi gì hơn thế nữa?! 

Trang Thụy

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).