Nhà văn Lê Bá Thự: Dịch thuật là quá trình sáng tạo...

Nhà văn Lê Bá Thự tuổi Nhâm Ngọ. Không biết có phải vì thế, mà ông phải rong ruổi, xa quê cả đời người? Nhưng là người mệnh Mộc, thân thiện, nên ở đâu ông cũng hòa nhập và thành công.

Năm 1960, ông rời làng quê lên thị xã Thanh Hóa (bây giờ là thành phố) để gia nhập ngôi trường cấp 3 danh giá mang tên “Chuyên Lam Sơn”. Ba năm học phổ thông, hai năm ông được bầu làm Bí thư Đoàn trường. Kể ra, với một cậu bé “nhà quê” lên “tỉnh” được giao “nhiệm vụ”, hẳn là phải học giỏi và được thầy cô tin tưởng.

Làng Nguyệt Lãng, Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa, cách thị xã Thanh Hóa, theo quốc lộ 45 gần 20km nên trở thành nỗi nhớ nhung trong trái tim cậu học trò Lê Bá Thự từ đó. Năm 1964, ông rời làng, đến với cuộc đời rộng lớn. “Tôi xa làng, nhưng ngày nào làng cũng ở trong tôi. Làng ở trong tôi khi tôi thức. Làng ở trong tôi ngay cả khi tôi ngủ. Nhiều đêm tôi chiêm bao thấy mình đang ở làng, đang chơi bời nhảy múa với bạn cùng trang lứa, đang làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp, đang gánh phân, nhổ mạ, đang bắt cua, bắt ốc.... đang chăn bò trên cánh đồng làng ... Những ký ức về làng chất chồng trong tôi năm này, qua năm khác”, Lê Bá Thự tâm sự.

1.jpg -0

Khi cầm trên tay cuốn tự truyện "Tôi và làng tôi" của nhà văn - dịch giả Lê Bá Thự, tôi lại nhớ hai câu thơ về làng: “Xưa tôi sống trong làng/ Giờ làng sống trong tôi”, (Chạm đáy sông đầy) của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Làng trong trái tim Lê Bá Thự cũng quẫy đạp y chang.

Sang đất nước Ba Lan anh em, ở trung tâm châu Âu, Lê Bá Thự vào học Đại học Bách khoa Warszawa. Năm 1970, sau khi tốt nghiệp với tấm bằng thạc sĩ, ông trở về nước giảng dạy ở Trường Đại học Mỏ địa chất. Năm 1973, Lê Bá Thự chuyển ngành sang công tác tại Bộ Ngoại giao. Năm 1996, ông trở lại Ba Lan với cương vị Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan. Như vậy, “tuổi Ngọ” vận vào người ông, Lê Bá Thự vốn thích sự độc lập, dũng cảm đương đầu với thử thách để đạt được thành công. Vì thế, mà phải rong ruổi. Năm 2000, Lê Bá Thự về nước, tiếp tục công tác cho đến lúc nghỉ hưu.

Với ai tôi có thể nghi hoặc, nhưng với Lê Bá Thự, tôi tin, làng luôn ám ảnh trong ông. Và rồi, "Tôi và làng tôi" ra đời, với hơn 300 trang viết. Trong cuốn tự truyện mà Lê Bá Thự gọi là “hồi ức tuổi thơ” này, ông đã đưa người đọc ngược thời gian trở về thời điểm những năm 1950 đến 1960 của làng quê nghèo Nguyệt Lãng. Nơi đó chứa đựng ăm ắp ký ức tuổi thơ ông. Các nhà thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa và nhiều nhà văn, nhà thơ khác đã dành những tình cảm trân quý, khi đánh giá về tác phẩm này của Lê Bá Thự. Và rồi, điều gì cần đến, đã đến. "Tôi và làng tôi" được tái bản lần thứ ba, mang lại cho nhà văn Xứ Thanh Lê Bá Thự Giải Nhì, Giải thưởng văn học nghệ thuật Lê Thánh Tông năm 2020 của Thanh Hóa.

Bấy lâu nay, khi bàn đến Lê Bá Thự, bạn yêu văn chương vẫn hình dung một dịch giả có tài. “Giã biệt làng Nguyệt Lãng yêu thương, ngày 4/8/1964, trong một ngày đẹp trời tại ga Hàng Cỏ, Hà Nội, tôi lên tàu liên vận sang Ba Lan du học”, ông chia sẻ. Với tư cách là dịch giả văn học Ba Lan, Lê Bá Thự từng hai lần được nhận Huân chương Công trạng Cộng hòa Ba Lan do Tổng thống Ba Lan trao tặng năm 2012 và 2017, với những cống hiến xuất sắc của ông trong lĩnh vực văn hóa giữa hai nước. Trong ngôi nhà khiêm nhường của ông ở làng Hào Nam (Đống Đa, Hà Nội), ngay chính giữa phòng khách, ông treo trang trọng bức ảnh Tổng thống Cộng hòa Ba Lan Andrzej Duda trao Huân chương Công trạng cho mình. Đó không chỉ là sự vinh danh.

Lê Bá Thự hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Hội hữu nghị Việt Nam - Ba Lan. Không chỉ là nhà ngoại giao, những năm tháng công tác ở Ba Lan và mãi đến bây giờ, Lê Bá Thự còn là một sứ giả văn hóa của Việt Nam tại Ba Lan - đất nước của nhiều “tượng đài”, vừa cổ điển vừa hiện đại, trong đó có 5 nhà văn, nhà thơ đoạt giải Nobel về văn học. Ai chưa từng nghe âm nhạc cổ điển của thiên tài Chopin?! Nhờ uy tín dịch thuật của mình, Lê Bá Thự ba lần được mời tham dự Đại hội Dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới (2005, 2013 và 2017), tổ chức tại cố đô Krakow. Tại đây, Lê Bá Thự đã được giao lưu với nhiều dịch giả hàng đầu của nhiều quốc gia; đặc biệt ông đã được tiếp xúc với nữ nhà thơ Wislawa Szymborska (Nobel văn học năm 1996) và nữ nhà văn Olga Tokarczuk (Nobel văn học 2018).

“Là cán bộ giảng dạy Khoa Trắc địa Bản đồ Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, rồi nhà ngoại giao, cơ duyên nào đưa ông đến với văn chương?”. Khi nghe tôi hỏi, ông trả lời: “Mê sách, đam mê văn học từ bé”. Tất nhiên, tôi hiểu, nó vừa là năng khiếu “trời cho”, vừa là người bị “trời hành”. Cậu ấm Lê Bá Thự từng là học sinh giỏi văn 3 năm liền của cấp 3 Lam Sơn, có mặt trong đội hình thi học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc. Trời phú cho Lê Bá Thự tư chất thông minh, cảm xúc tinh tế, năng khiếu ngoại ngữ. Ông là người biết chắt chiu vốn sống, vốn chữ. Ông đọc văn học Ba Lan từ nguyên bản tiếng Ba Lan.

Nhà văn Lê Bá Thự: Dịch thuật là quá trình sáng tạo... -0
Nhà văn, dịch giả Lê Bá Thự với nhà thơ Trần Đăng Khoa.

“Công tác trong ngành Ngoại giao, nhưng trong tôi luôn hừng hực đam mê văn học. Tôi luôn luôn nghĩ, phải trở lại con đường văn học, và dịch thuật là con đường khả dĩ nhất để thực hiện khát khao này”, ông hồi ức về những ngày “bị” văn học quyến rũ.

Chỉ có thể giải thích bằng niềm đam mê khi biết rằng, quãng thời gian du học, từ 1964 – 1970, toàn bộ học bổng sau khi chi cho sinh hoạt, còn lại ông dùng mua sách. Lê Bá Thự kể rằng, khi trở lại Ba Lan tham dự Đại hội Dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ II (năm 2013), ông đã tranh thủ thời gian lang thang ở các hiệu sách lớn ở Warszawa và mua được 30 cuốn sách, gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ. Lê Bá Thự chọn ngay tiểu thuyết "Hy vọng" của nữ nhà văn đương đại nổi tiếng Ba Lan, Katarzyna Michalak, đáp ứng hai tiêu chí sách hay và bản thân thích, để dịch ra tiếng Việt. Và bản dịch tiểu thuyết "Hy vọng" của ông đã được tặng Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2014.

Bước vào văn chương bằng con đường dịch thuật, đến nay Lê Bá Thự đã là tác giả của trên 30 bộ sách dịch, trong đó có 11 tiểu thuyết, 6 tập truyện ngắn, 4 tập truyện cười, 3 tập sách thiếu nhi và 1 tập thơ…). Ngoài ra, ông còn viết tiểu luận phê bình và sáng tác thơ. Lê Bá Thự đã được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Hà Nội về dịch thuật, dành cho các bản dịch tiểu thuyết "Quà của Chúa" của nhà văn Dorota Terakowska (năm 2010), và "Hy vọng" của nhà văn Katarzyna Michalak (năm 2014). Lê Bá Thự từng là Phó Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII và IX.

Ngoài ra, ông còn giành được một số giải thưởng khác, như: Giải thưởng cuộc thi thơ của Báo Người Hà Nội (1999 – 2000), Giải thưởng cuộc thi viết của Báo Tiền Phong (năm 2002); Giải Nhì cuộc thi viết “Ký ức Tết trong tôi” do Báo Nông thôn Ngày nay tổ chức (năm 2020) …

Năm 2016, nhà văn Lê Bá Thự cho xuất bản cuốn sách "Lê Bá Thự 25 năm dịch và viết"; sách gồm 2 tập, gần 800 trang in. Đây là một công trình giới thiệu “căn cước” Lê Bá Thự. Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, “Lê Bá Thự là một trong những dịch giả hội tụ đầy đủ những phẩm chất và điều kiện cần thiết cho một dịch giả”.

Thứ nhất, Lê Bá Thự học giỏi tiếng Ba Lan, ngay trên đất Ba Lan; hiểu biết ngôn ngữ đó và đời sống của nó. Thứ hai, chính thời gian công tác ở Ba Lan, giúp Lê Bá Thự hiểu sâu sắc đất nước Ba Lan, đặc biệt là văn hóa Ba Lan. Thứ ba, Lê Bá Thự là dịch giả có khả năng lựa chọn chính xác các tác phẩm để dịch. Thứ tư, Lê Bá Thự có ý đồ trong dịch thuật. Ông có một tình yêu đặc biệt đối với văn học Ba Lan và mong muốn giới thiệu các giá trị của nền văn học đó với độc giả Việt Nam.

Đọc "Lê Bá Thự 25 năm dịch và viết" cho thấy khả năng sử dụng nhuần nhuyễn và tinh tế ngôn ngữ Ba Lan và Việt Nam. Tâm hồn Lê Bá Thự gần như cùng được tắm mình trong văn hóa Việt Nam và văn hóa Ba Lan. “Đọc Lê Bá Thự từ những tập truyện, tiểu thuyết, thơ mà ông dịch, tôi khẳng định ông là dịch giả giỏi trong tư duy nhà văn. Không phải nhà văn sáng tác nhưng ông sáng tạo bằng ngôn ngữ tiếng Việt với những trải nghiệm từ phông văn hóa rộng”, nhà thơ Vi Thùy Linh từng nhận xét.

Dù đã bát thập nhưng Lê Bá Thự vẫn đau đáu với văn học dịch, giới thiệu tinh hoa văn học Ba Lan với bạn đọc Việt Nam. “Dịch văn học là tái tạo một cách nhuần nhuyễn nguyên tác bằng ngôn ngữ khác”, ông nêu quan điểm tại một hội thảo. Ông lo lắng và hy vọng. Tôi nhận ra ở ông, trọn vẹn tấm lòng.

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).