Người Việt cười như thế nào?

Tháng 5-1971, tại Sài Gòn, Tạp chí Văn học số 128 thực hiện chủ đề “Hài hước trong tục ngữ, ca dao Việt Nam”, nhà phê bình nổi tiếng Tam Ích (1915-1972) quả quyết: “Mỗi khi dân tộc Việt Nam cười trong ca dao là cái cười có hai tác dụng: một là quên đi cái đau xót của đời sống; hai là cười để giấu đi cái khóc”...

Tôi muốn bổ sung thêm, không chỉ có thế, đôi khi người ta cười, đơn giản chỉ vì thích cười, muốn được cười thư giãn lúc lao động trên đồng cạn dưới đồng sâu, giã gạo đêm trăng, chèo đò... Qua đó, cũng là dịp họ có cớ trao duyên, đùa nghịch, châm chọc nhằm có dịp cười phá lên vui vẻ, quên đi mệt nhọc. Thôi thì, dù có thế nào đi nữa, cũng cười lên một tiếng cho vui.

Ảnh: L.G

Thủ pháp tạo ra tiếng cười hầu hết vẫn sử dụng theo thể thơ lục bát, do đó, có nhiều câu đi vào kho tàng ca dao của dân tộc, không thể biết ai là tác giả. Chuyện này, không quan trọng bởi hát hò đối đáp xong, người ta quên đi, ai có nhớ thì có quyền vận dụng lại trong tình huống khác, có thể thêm bớt vài chữ cho hợp lý hợp tình, chẳng ai... thưa kiện bản quyền theo Công ước Berne. Vì lẽ đó, đó cũng là một trong những lý do ca dao có nhiều dị bản.

Có thể nói, khi nam nữ hát hò, một trong những thủ pháp mà họ thường sử dụng nhằm tạo ra tiếng cười vẫn là cách nói úp úp mở mở về “cái ấy/ chuyện ấy”. Đừng nghĩ đó là sự thô tục, dễ dãi mà chính là nghệ thuật buộc “đối phương” phải vận dụng tài trí khéo léo, tinh tế trả lời lại, nếu không muốn chê là lỗ mãng, thất học, ít chữ.

Ai lên đón gió hỏi mây

Có khuôn đúc trẻ cho đây mượn cùng.

“Khuôn đúc trẻ”, khéo quá, cụm từ này thanh nhã lắm. Bị dồn vào thế bí, không chịu thua, bên nữ trả lời ngay tắp lự:

Anh kia ăn nói lạ lung

Khuôn ai nấy đúc, mượn cùng ai cho.

Dạ, đúng chưa ạ? Chưa à. Thì đây:
Hỡi người gánh nước vô lu
Lại đây anh gửi thằng cu, anh về.

Hỡi người gánh nước vô lu

Lại đây anh gửi thằng cu, anh về.

Hỡi người gánh nước vô lu

Lại đây anh gửi thằng cu, anh về.

Nói sỗ sàng thế mà cũng nói được. Về nguyên tắc hò đối đáp, người ta đưa ra câu hỏi, dù khó, dù xỏ lá, trêu ghẹo nhưng chớ nổi nóng buông lời nặng nhẹ, phải đáp lại thật đau cho bỏ cái tật cà chớn cà cháo nhưng cũng phải... du dương vần điệu, ấy mới cao cơ:

Em đây gánh nước tưới cà

Sao anh lại gửi trốc cha anh vào?

Trốc là đầu. Thế là anh chàng kia “knock-out” tối mắt tối mũi, chuồn gấp! Lại có người hát hò trêu chọc bên nữ: “Nghe em có giếng giang hồ/ Cho anh thả cá tràu vô với nào”. Câu này có gì cà khịa? Xin thưa, không rõ có phải do hình tượng của cá tràu/cá quả/cá lóc hay không mà cả ba miền đều mượn nó dùng trong sự ám chí “cái ấy” cho tế nhị? Ở Quảng Nam có câu: “Thiếp tới chàng dọn một dĩa rau/ Hai bên là hai củ hành tàu/ Ở giữa có một con cá tràu nằm ngang/ Ăn vô thấu bụng thấu tràng/ Bữa nay thiếp mới biết của chàng thật ngon”.

Biết ẩn ý ở con cá tràu đó, bên nữ nào kém chi: “Giếng giang hồ em có đã lâu/ Để anh vuốt mặt rửa đầu cho trơn”. Câu trả lời độc địa quá đi mất. Tiếng cười của người Việt, nếu cần cũng thâm trầm kín đáo, thừa sức “đá giò léo” một cách tuyệt chiêu.

Hẳn ta còn nhớ giai thoại liên quan đến nữ văn nhân Đoàn Thị Điểm. Rằng, khi sứ Tàu sang nước  ta, để dạy cho chúng bài học về tài trí thông minh của người Việt, không dễ bắt nạt, nhà vua sai bà ra ven sông Hồng ngồi bán nước chè. Bà láu lỉnh cố tình vén váy lên cao một chút, cực kỳ hớ hênh như trêu như chọc. Quả nhiên, quan Tàu sa bẫy, nhìn thấy bèn há họng miệt thị: “An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh” (An Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày).

Kể ra, tay quan này cũng đáo để lắm, hắn ta thừa biết người nước Nam hay ám chỉ tếu táo “nhất thốn” tức “chỗ ấy”; “canh” là cày mà cày là ám chỉ “động tác ấy”. Xin dừng một chút để thấy “nhất thốn” trong hát đối Việt Nam. Rằng, có cô gái hò trêu chọc, cực kỳ tréo ngoe:

Thiếp đưa chàng một nắm bắp rang

Chàng kiếm nơi mô tỉa được, thiếp với chàng trao duyên.

Chàng trai đáp:

Bên em có miếng đất hoang

Ba năm không có nước

Hạn sáu tháng không khô

Em sẵn lòng trao cho anh trỉa, trỉa vô mọc liền.

Đất hoang ấy, “nhất thốn” ấy đích thực là “chỗ ấy”. Đối đáp éo le này, còn có dị bản như:

Đưa chàng mấy hột ngô rang

Đúc vô mô mà mọc, thiếp đốt nhang mời về.

Đúc vô mô - tiếng địa phương có nghĩa là đút, gieo vào chỗ nào. Mà ngô đã rang thì làm sao gieo cho mọc được hở trời? Đố như thế quả là hiểm hóc. Không ngờ, có người lên tiếng rổn rảng đối lại rất... thú vị: “Nơi mô mà nắng không khô/ Mà mưa không ướt... đúc vô mọc liền!”.  Nơi mô? Ai biết nơi mô?

Ảnh: L.G
Ảnh: L.G

Trở lại với bà Đoàn Thị Điểm. Thừa biết tay quan Tàu láu cá, miệt thị, rẻ rúng thân phận người phụ nữ nói chung, bà điềm nhiên: “Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất” (Các đại phu nước phương Bắc, đều do từ chỗ ấy mà ra). Phái đoàn phương Bắc nghe xong, thế nào? Chỉ có thể kết luận chắc nịch: “Đau hơn hoạn”. Bị thiến đấy nhưng nào dám kêu, chỉ còn ngậm miệng cút xéo cho đỡ nhục. 

Tiếng cười của người Việt đấy!

Cuộc hò đối đáp vẫn vui, vẫn cứ tiếp tục, bên nữ hò tiếp:

Bóng ai thấp thoáng ngoài đường

Thì vô ẩn múi cho nường quay tơ.

“Ẩn múi” nói lái của “ủi mấn”, theo tiếng xứ Nghệ, ủi là đẩy, đào, bới; mấn là váy. Thế thì còn gì mặt mũi của đấng nam nhi? Rồi, họ còn hò với câu đố thiệt khó:

Con rồng kia phải bệnh ngáp dài

Hỏi chàng quân tử uống bài thuốc chi?

Bị hỏi dồn tới tấp, anh chàng bèn chọn cách khôn ngoan là đánh trống lảng, lái qua chuyện ba trợn ba trạo:

Hai củ nhân sâm, một củ hoàng kỳ

Ăn vô nó khỏi, uống thì nó thôi.

Hiểu ra thì cười, chứ nào ai dám bắt bẻ chi. Được trớn, bên nam bèn lấn tới: “Em ơi, anh hỏi em này/ Hai cái chi bụm bịm mỗi ngày mỗi to?”. Thừa biết tỏng, biết hỏi cái gì rồi, bên nữ đáp cũng lém lỉnh: “Anh hỏi thì em xin thưa/ Cây bù trước cửa, có hai quả đu đưa tròn tròn”. Bù là bầu. Hai từ “đu đưa” thật ấn tượng. Bằng chứng là còn có câu hò: “Gặp anh Ba đây mới khiến hỏi anh Ba/ Làm ăn lâu nay vẫn khấm khá hay vẫn sát da như bọn mình?”.

Từ câu hỏi nghiêm túc, sát da tức da bọc xương do thiếu ăn, nào ngờ câu trả lời thật tiếu lâm, bỡn cợt một cách kín đáo mà... lộ liễu: “Thời buổi bây chừ công việc sớt sưa/ Dư không dư, thiếu không thiếu, vẫn đu đưa như mọi ngày”. Cái gì đu đưa? Cũng như mẩu chuyện này, kể lại nghe chơi vì có liên quan đến câu hò trên. Rằng, đầu thế kỷ XX, thời Pháp thuộc, có viên Thừa phái và quan Thiếu bảo trong huyện Kiến Xương (Thái Bình) thích hát cô đầu nhưng keo kiệt nên thường quên tiền “bo”. Để “sửa lưng” khách, một hôm cô đầu trẻ xin hát tặng một bài hát nói. Khi khách vừa gõ tiếng trống chầu rôm rả, cô đầu cất giọng “mưỡu” ngọt ngào:

Người ta đều gọi ông Thừa

Mà em nhìn mãi chẳng thừa cái chi

Cái thừa là cái chi chi

Vứt đi là hết còn chi là thừa.

“Tom chát tom...” vút lên như khen, như khích lệ giọng ca. Cô đầu chuyển qua “hát nói”:

Ông thừa gì thế?

Bấy lâu nay ôm bế tiếng ông Thừa

Em nhìn xem mặt mũi đều vừa

Mà nhìn kỹ cái thừa đâu chẳng thấy

Có phải cái thừa là “cái ấy”

Thì đây này “cái thiếu” của em đây!

Đem thừa kia bù với thiếu này

Cho khít khịt từ nay vừa vặn cả.

Chỉ mới nghe đến đây, khách hứng chí “tom chát tom” và cười sảng khoái. Đã có “cái ấy”, phải thêm “cái này” cho “hòa hợp âm dương” vậy. Cô đầu bình tĩnh hát tiếp:

Ông Thừa vì vét tiền thiên hạ

Cụ Thiếu càng ham của thế gian

Thiếu, Thừa âu cũng là quan!

Câu hát vừa dứt. Mặt khách đỏ bừng bừng nhưng cũng cố... nhoẻn một nụ cười! Nếu cứ giả vờ nghiêm nghị, lên mặt đạo đức (giả) e rằng khó có thể cảm nhận tiếng cười tươi trẻ, phóng khoáng, đầy sức sống trong nghệ thuật cười Việt. Thí dụ, ngày kia, giữa lúc mọi người đang hát hò, có chàng trai trẻ đến sau, trượt chân té ngã sóng soài lấm lem, thế là các cô chộp ngay cơ hội trêu chọc: “Đến đây đàn hát vui xuân/ Khấu đầu bái tạ trước sân làm gì?”. 

Trường hợp này, tương truyền nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng đã từng chống chế: “Giơ tay với thử trời cao thấp/ Xoạc cẳng do xem đất vắn dài”. Còn ở đây, dù quê cơ/quê độ nhưng chàng trai láu lỉnh biện bạch: “Đất đâu có đất lạ lùng/ Đứng thì không được, nằm cùng thì cho”. Quả là khôn khéo. Mà cái sự “nằm cùng” này nhiều nghĩa lắm.

Dù quê thì quê, nhột thì nhột nhưng chẳng lẽ chịu thua? Bên nam hò tiếp: “Ra đây anh hượt một sào/ Lạch này coi thử chỗ nào cạn sâu?”. Cái sào xuất hiện trong ngữ cảnh này hoàn toàn không ngẫu nhiên, có chủ đích rõ ràng. Ta lại nhớ đến câu hò khác đầy ẩn ý của bên nữ: “Hai bên cỏ mọc xanh rì/ Ở giữa có khe nước chảy hỏi anh đi đường nào?”. Dường như chỉ chờ có thế, bên nam đáp ngay: “Hai tay anh bu lấy cội đào/ Ở giữa có khe nước chảy anh chống sào anh qua”. Thế thì, trong trường hợp trên khi nghe đến cái sào đầy ngụ ý, bên nữ cứ tỉnh bơ như không: “Lạch này chỗ cạn chỗ sâu/ Sa chân cũng dễ ngập đầu anh ơi?”. Thử hỏi còn câu cà khịa nào đau hơn nữa không?

Qua những dẫn chứng này, ta thấy cách nói úp mà mở, mở mà úp cũng chính là nghệ thuật cười Việt. Câu hát ví vừa dứt, mọi người cất tiếng cười ầm, khoái trá. Cười thế mới là cười đứt đuôi con nòng nọc. Thôi thì, dù có thế nào đi nữa, cũng cười lên một tiếng cho vui.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?