Người được cấp hộ chiếu ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nhiệm vụ “Phải mở cho được một cửa ngõ ra thế giới” đã được đặt lên hàng đầu. Địa bàn mà Bác Hồ và Trung ương Đảng chọn làm “cửa ngõ” là Thái Lan. Người được lựa chọn làm phái viên Chính phủ Việt Nam DCCH tại Thái Lan là đồng chí Nguyễn Đức Quỳ, năm đó 32 tuổi - một cựu tù chính trị Sơn La, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam đầu tiên.

Đầu xuân Ất Dậu (ngày 28/2/2005), Tỉnh ủy Hà Nam đón tiếp bà Nguyễn Thị Cúc, phu nhân của đồng chí Nguyễn Đức Quỳ (tức Đào Thành Kim, Đào Bình Luống) - nguyên Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Hà Nam (năm 1938, khi mới 24 tuổi). Hôm đó, bà Nguyễn Thị Cúc đã trao tặng Tỉnh ủy Hà Nam bức chân dung của đồng chí Nguyễn Đức Quỳ khi còn trẻ. Tỉnh ủy Hà Nam đã trân trọng đưa bức ảnh vị Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên vào Bảo tàng tỉnh Hà Nam . Thuộc lớp người đi làm cách mạng, cuộc đời và hoạt động của đồng chí Nguyễn Đức Quỳ vô cùng phong phú, thấm đẫm chất người Cộng sản chân chính.

Tấm hộ chiếu ngoại giao đầu tiên

60 năm trước, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời giữa vòng vây dày đặc của chủ nghĩa đế quốc. Trong muôn vàn bộn bề công việc của một nhà nước non trẻ, “Phải mở cho được một cửa ngõ ra thế giới” là nhiệm vụ được ưu tiên. Địa bàn mà Bác Hồ và Trung ương Đảng chọn làm “cửa ngõ” là Thái Lan, vì những yếu tố địa lý, giao thông thuận tiện với các nước trong khu vực và từ khu vực ra thế giới. Một yếu tố quan trọng khác, cộng đồng kiều bào ta ở Thái Lan khá đông, có tinh thần yêu nước sâu sắc. Hơn nữa, sau chiến tranh thế giới, ý thức dân tộc độc lập dâng cao tại các nước Đông Nam Á, trong đó có Thái Lan; chính quyền Thái Lan có thiện cảm với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước láng giềng.

Giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Đức Quỳ vào một ngày cuối tháng 6/1946, đồng chí Trường Chinh nêu một số nhiệm vụ cụ thể: Phải đoàn kết kiều bào ta ở Thái Lan và các nước khác hướng về Tổ quốc; làm cho thế giới hiểu về cuộc kháng chiến (tất yếu sắp xảy ra) của nhân dân ta; tìm cách tiếp tế cho kháng chiến Nam Bộ; vận động các chính phủ Đông Nam Á, trước hết là Chính phủ Thái Lan đồng tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống ngoại xâm...

Từ phải sang gồm các đồng chí: Nguyễn Đức Quỳ, Nguyễn Thanh Sơn, Cao Hồng Lãnh, Trần Mai, Song Tùng, tại Thái Lan năm 1948.

Từ phải sang gồm các đồng chí: Nguyễn Đức Quỳ, Nguyễn Thanh Sơn, Cao Hồng Lãnh, Trần Mai, Song Tùng, tại Thái Lan năm 1948.

Trước nhiệm vụ quan trọng, đồng chí Nguyễn Đức Quỳ không khỏi lo lắng. Đồng chí Trường Chinh đã động viên: “Gặp việc, chìa vai ra gánh, vừa làm vừa rút kinh nghiệm”. Thấy đồng chí Nguyễn Đức Quỳ còn băn khoăn, đồng chí Trường Chinh mỉm cười, nói: “Tôi hiểu sự băn khoăn của đồng chí, công việc mới mẻ, khó khăn, lại xa Trung ương, xa đất nước. ở hoàn cảnh như thế, sự thận trọng và tỉnh táo sẽ giúp tránh được thiếu sót. Hãy cố gắng!”. Được sự tin tưởng và khích lệ của đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Đức Quỳ đã vui vẻ nhận nhiệm vụ.

Một ngày đầu tháng 7/1946 tại Phủ Chủ tịch, đích thân Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trao “Thư ủy nhiệm” cho đồng chí Nguyễn Đức Quỳ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp căn dặn: “Cố gắng làm việc thận trọng, giấy giới thiệu là đại diện Chính phủ ta bên cạnh các nước bạn bè, quyền hạn rộng lắm đấy”. Rồi, như để định hướng thêm, vị Bộ trưởng nhắc: “Tình thế đẻ ra công việc, không người này thì người khác phải làm, dần dần sẽ có kinh nghiệm. Gặp việc thì suy nghĩ kỹ khía cạnh chính trị”.

“Thư ủy nhiệm” cũng chính là một tấm hộ chiếu ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam DCCH, được đánh máy trên giấy pơ-luya  khổ A4, bằng bốn thứ tiếng Việt – Pháp – Trung – Anh, do quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ký ngày 7/7/1946. Phía bên trái dưới tiêu đề “Chủ tịch Chính phủ”, là ảnh chân dung đồng chí Nguyễn Đức Quỳ, có đóng dấu Chủ tịch phủ. Thư ủy nhiệm có đoạn: “Chúng tôi, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam DCCH, xin giới thiệu ông Nguyễn Đức Quỳ, phái viên của Chính phủ Việt Nam đi ra ngoại quốc để liên lạc với các nước hữu bang và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến sự thân thiện giữa các nước hữu bang với Việt Nam”.

Phái viên Chính phủ Việt Nam DCCH tại Băng Cốc thời kỳ 1946-1951

Đoàn Phái viên Chính phủ Việt Nam lên đường. Do yêu cầu bí mật, Đoàn xuất phát từ Hải Phòng bằng tàu thủy qua Hồng Công, đến Băng Cốc vài hôm trước kỷ niệm một năm Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 19/8/1946, phái viên ra mắt kiều bào ta tại một ngôi chùa lớn do một sư cụ người Việt Nam trụ trì. Phái viên ta còn đi thăm kiều bào ở các địa phương, đi đến đâu cũng được đón tiếp nồng hậu. Kỷ niệm một năm ngày Quốc khánh được bà con Việt kiều đón mừng như một ngày hội lớn, có cả quan chức địa phương tham dự.

Từ khi phái viên Chính phủ Việt Nam DCCH có mặt ở Băng Cốc, Chính phủ Thái Lan tuy không chính thức công nhận nhưng vẫn tiếp xúc và một chừng mực nào đó trên thực tế, đã ngầm công nhận tư cách của phái viên ta. Nhân vật đầu tiên mà đồng chí Nguyễn Đức Quỳ tiếp xúc là ngài Thông In – Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Kinh tế và là Tổng thư ký phong trào “Thái tự do”. Sau khi nghe Phái viên trình bày một số nét tình hình Việt Nam và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, ông nói: Chính phủ và nhân dân Thái Lan có nhiều thiện cảm với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam .

Trong năm 1947, các cuộc tiếp xúc được mở rộng dần. Đồng chí Nguyễn Đức Quỳ đã gặp Thủ tướng Thái Lan Tham Rong tại nhà riêng của ngài Thông In, đồng thời có các cuộc tiếp xúc  với nhiều nhân vật quan trọng trong chính quyền và quân đội Thái Lan. Kết quả của những cuộc tiếp xúc đầu tiên vượt quá sự mong đợi của ta. Chính phủ Thái Lan đồng ý cho ta mở trụ sở của Phái viên Việt Nam DCCH, được treo Quốc kỳ, thường gọi là “Phái viên quán”. Ban đầu, trụ sở phái viên đặt trên đường đi Pạc Nam , sau chuyển về Lảng Xuổi, rồi lại chuyển đến một khu khang trang trên đường Xã Thon, gần với Sứ quán các nước Miến Điện, Liên Xô, Mỹ, Anh.

Tranh thủ thời gian thuận lợi này, Phái viên quán đã đẩy mạnh công tác quyên góp tiếp tế về nước, đặc biệt là mua vũ khí. Chính quyền Thái Lan cũng đồng ý cho Việt Nam mở Phòng Thông tin Việt Nam, phát “Bản tin Việt Nam” bằng tiếng Anh và tiếng Thái tại Thái Lan và ra các nước khác trong khu vực.

Được sự giúp đỡ, ủng hộ của chính quyền Thái Lan thời kỳ này, thông qua việc tuyên truyền của Phái viên Việt Nam . Kiều bào ta ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Chính phủ Cụ Hồ bằng những việc làm thiết thực. Cùng với quyên góp tiền mua máy móc, thiết bị chuyên dụng..., kiều bào ta còn góp sức người, lập một số đội quân như đội Cửu Long I, Cửu Long II, Trần Phú... trang bị đầy đủ vũ khí, hành quân về nước tham gia kháng chiến.

Riêng Chi đội Trần Phú gồm 273 thanh niên ưu tú, được huấn luyện kỹ và tổ chức chặt chẽ đã hành quân về Nam Bộ. Chi đội Trần Phú nổi tiếng chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công tại Tây Ninh, Mộc Hóa. Về sau, nhiều cán bộ của chi đội này đã trở thành nòng cốt cho một số đơn vị, trong đó có “Tiểu đoàn 307” oai hùng.

Đầu tháng 11/1947, đồng chí Nguyễn Đức Quỳ lại gặp Thủ tướng Tham Rong, ông cho biết sẽ vận động công nhận Chính phủ Việt Nam DCCH và ủng hộ phong trào giải phóng Đông Dương trong một hội nghị quốc tế gồm Thái Lan, Việt Nam, Lào, Indonesia, Miến Điện và Ấn Độ.

Ngày 8/11/1947, Thủ tướng Tham Rong bị lật đổ bởi cuộc đảo chính do phái hữu tiến hành, nên tình hình có nhiều thay đổi đột biến, bất lợi cho ta. Sau sự kiện này, hoạt động của Phái viên quán ngày càng gặp nhiều khó khăn, song vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ vận động kiều bào ủng hộ kháng chiến, mua và vận chuyển vũ khí về nước.

Đến đầu năm 1950, Chính phủ Thái Lan công nhận chính quyền Bảo đại của Quốc gia Việt Nam và cho chính quyền này đặt Sứ quán tại Băng Cốc. Một số thế lực gợi ý phái viên ta nên tiếp xúc với Đại sứ của Bảo Đại là Nguyễn Khoa Toàn, nhưng đồng chí Nguyễn Đức Quỳ đã trả lời dứt khoát: “Cá nhân tôi không quen biết và cũng không thù hằn gì với Nguyễn Khoa Toàn. Nhưng ông ta đại diện cho một ông vua bù nhìn. Chính phủ kháng chiến và nhân dân chúng tôi coi ông ta là một người bán nước nên không có khả năng, dù là nhỏ nhất, hợp tác với ông ta”. Người đối thoại vừa cười, vừa hỏi vặn: “Như vậy có cứng nhắc quá không?”. Đồng chí Nguyễn Đức Quỳ khẳng định: “Người yêu nước và người bán nước nhìn nhau còn không được, huống chi là hợp tác”.

Đến giữa năm 1951, Trung ương Đảng và Bác Hồ chỉ đạo cho Đoàn Phái viên trở về Việt Bắc. Đoàn còn được giao một nhiệm vụ quan trọng là đưa gia quyến một số lãnh tụ Lào (tản cư sang Thái Lan) cùng trở về Việt Bắc, gồm hai bà Xuphanuvong, bà Phumivongvichít cùng các con của hai bà. Cuối tháng 8/1951, đoàn về đến Việt Bắc.

Qua 5 năm hoạt động tại Thái Lan, đồng chí Nguyễn Đức Quỳ và các cán bộ của Phái viên quán đã góp phần xây dựng cây cầu nối Việt Nam ra thế giới. Một thời gian sau khi về nước, tháng 2/1952, đồng chí Nguyễn Đức Quỳ được Trung ương giao nhiệm vụ Bí thư thứ nhất đầu tiên của Sứ quán ta tại Mátxcơva, Liên Xô

Trần Duy Hiển

Các tin khác

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.