Ngọc tỏa sáng trong văn học!

“Truyện Kiều” có 26 lần nói đến hình tượng ngọc chủ yếu là ẩn dụ chỉ người đẹp, cụ thể là nàng Kiều tài sắc vẹn toàn: “Rằng mua ngọc đến Lam Kiều”; một dáng đẹp tuyệt trần thì: “Càng nhìn vẻ ngọc, càng say khúc vàng”; một người đẹp gặp bi kịch: “Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi”... “Ngọc” còn để chỉ cách ăn nói văn chương trôi chảy, bay bướm, bóng bẩy chinh phục lòng người: “Khen tài nhả ngọc phun châu...”.

Bà Hồ Xuân Hương lấy ngọc tả người: “Hai hàng chân ngọc duỗi song song” cho thấy một quan niệm nghệ thuật coi con người là quý giá nhất (quý như ngọc)... Thực tế xưa nay ngọc quý đến mức chỉ những người quyền quý, cao sang, giàu có hơn người mới có tài sản là ngọc. Quý đến mức “vô giá” vì trước nay cũng chỉ thấy nói “giá vàng” chứ chưa thấy nói “giá ngọc”, tức mua bán vàng là phổ biến còn ngọc thì không. Vì... rất quý!

p -0
Xá lợi Phật.

Trong kho tàng văn hóa Việt, ngọc để chỉ những vật giá trị, tốt đẹp cả hình thức và nội dung. Thành ngữ có câu: “Ngọc lành chẳng phải bán rong” để chỉ những vật quý giá tự khắc sẽ có người tìm đến. Để nói về người tài năng thường có một khuyết tật nào đó có câu: “Ngọc còn có vết”. Nhìn rộng ra trong cổ tích ở nhiều nước đều có chung motif “viên ngọc ước”, ngay tên truyện đã cho thấy ngọc là biểu tượng về khát vọng đổi thay, mong muốn vươn tới một cuộc đời tốt đẹp hơn.

Đại để cũng giống với cốt truyện “Viên ngọc ước” của ta. Một chàng trai nghèo vô tình bắt được con quạ, quạ bèn hứa thả ra sẽ biếu viên ngọc ước. Thế là anh ta ước nhà, ước có vợ, ước giàu sang phú quý... Có tên nhà giàu lập kế chiếm viên ngọc. Nhưng được ngọc thì cả nhà hắn mũi bị dài ra như vòi voi. Được ông Bụt giúp, anh thanh niên đến đòi lại viên ngọc rồi làm cho mọi người bình thường trở lại... Câu chuyện toát lên bài học đạo lý ở hiền gặp lành, khuyên răn người ta ăn ở thật thà...

Theo lối chiết tự phương Đông thì chữ “vương” nghĩa là vua có ba nét ngang và nét sổ ở giữa. Ba nét ngang này biểu thị thiên, nhân, địa, cũng có nghĩa là “tam tài”. Nét sổ ở giữa ý nói con người (này) trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu việc đời. Đó là người kiệt xuất, là “vương” tức là vua. Chữ ngọc là chữ vương có kèm thêm dấu chấm bên trong với ý nghĩa vật quý (tròn nhỏ) vua luôn mang trong người. Theo lối ký hiệu biểu trưng này thì ngọc quý đến mức rất gần gũi với vua, được vua yêu quý mang theo... Thế nên có vàng, nhiều vàng chưa hẳn đã người giàu, phải có nhiều ngọc mới thực sự giàu sang phú quý!

Có nhiều loại ngọc nhưng phổ biến là ngọc trai, tức ngọc lấy từ con trai dưới biển. Thần thoại Ba Tư kể ngọc trai được hình thành từ những giọt sương rơi xuống biển rồi được trai nuốt vào. Thần thoại Hy Lạp cổ cho rằng đó là giọt nước mắt của nữ thần tình yêu Aphrodite (vốn là giọt máu của thần Zeus rơi xuống biển được những đám bọt biển quấn lấy mà sinh ra) rơi xuống đại dương và những con trai nuốt vội vào thân chúng... Các hiệp sĩ thời Trung cổ thường cất viên ngọc trai trong bộ áo giáp sắt trước khi ra trận chiến, coi như một ma thuật hộ mệnh sẽ giúp họ chiến thắng.

Trong Kinh thánh cổng Thiên đường được mô tả làm từ những viên ngọc trai khổng lồ. 12 cổng là 12 viên ngọc trai óng ánh ngũ sắc. Trong tích cổ Hindu giáo, vị thần Krishna tặng người vợ yêu những viên ngọc trai như một biểu tượng của tình yêu và sự hòa hợp. Đất nước Ai Cập thời cổ đại quý ngọc trai đến mức tạo ra một huyền thoại kể chuyện thách đố giữa nữ hoàng Cleopatra với quần thần xem ai có thể “nuốt chửng” tài sản của cả một quốc gia chỉ trong một bữa ăn. Không ai làm được. Đến lượt Nữ hoàng, bà bèn nghiền một viên ngọc trai rồi hòa vào ly rượu uống. Bà đã giành phần thắng. Nghĩa là viên ngọc trai quý đến nỗi ngang giá với tài sản một quốc gia!

Thế nên thời La Mã cổ trang sức ngọc trai là biểu tượng tối thượng của sự giàu có và quyền thế. Vào thế kỷ I trước Công nguyên, nhà nước Cộng hòa La Mã thông qua một đạo luật chỉ cho phép tầng lớp thống trị mới được đeo ngọc trai. Người Trung Quốc cổ cũng có vô số truyền thuyết về ngọc trai, đại để là ca ngợi đó không chỉ là tài sản rất quý, còn tượng trưng cho sự thánh thiện, trong trắng nên chỉ có những thiếu nữ hoàng tộc quyền quý mới được đeo.

Việt Nam có một truyền thuyết cực hay lý giải sự hình thành của ngọc là máu nàng Mỵ Châu. Tuyệt vời trong trắng nhưng gặp oan khuất ngút trời, máu của nàng chảy xuống biển, con trai ăn phải mà trở thành ngọc. Ngọc này càng sáng hơn khi được rửa vào nước giếng nơi Trọng Thủy tự vẫn. Qua chi tiết này phải chăng dân gian chiêu tuyết cho Trọng Thủy rằng dù có là kẻ phản bội nhưng hắn có một tình yêu thật sự với Mỵ Châu?! Đó cũng là cái tình ấm áp bao dung của người Việt. Có nhiều ý nghĩa nhưng truyện cũng phần nào giải thích ngọc trai quý vô cùng vì đó là máu... Thì ra các nền văn hóa đều có mẫu số chung, ngọc trở thành hình tượng mẫu gốc để các đời sau khai thác và tiếp tục tưởng tượng...

p -0
Ngọc lục bảo hình giọt nước rất quý hiếm.

Ngọc quý đến nỗi các triều đại phong kiến phương Đông cổ xưa lấy ngọc làm biểu trưng cho quyền lực tối thượng, sự cao quý, bền vững. Gọi là “ngọc tỷ”. Ngọc truyền từ đời này sang đời khác nên gọi là “ngọc tỷ truyền quốc”, một thứ “quốc bảo” ý nghĩa nhất nên luôn ở bên cạnh vua. Thay đổi triều chính mà vua mới chưa có “ngọc tỷ truyền quốc” là chưa được chính danh. Thế nên chiếm ngôi vua đồng nghĩa với việc phải chiếm “ngọc tỷ truyền quốc”!

Tương truyền nước Sở thời nhà Chu có Biện Hòa bắt được viên ngọc quý liền dâng lên vua Lệ Vương, vua cho là ngọc giả bèn chặt chân trái. Lại đợi dâng vua Vũ Vương liền bị chặt chân phải. Phải đến khi vua Văn Vương lên ngôi mới được coi là ngọc thật. Truyện rằng người họ Hòa ôm hòn ngọc khóc ở chân núi đến chảy máu mắt. Vua Văn Vương bèn cho người đến hỏi. Biện Hòa thưa: “Tôi khóc không phải là thương hai chân tôi bị chặt, chỉ đau xót về nỗi ngọc mà cho là đá, nói thật mà cho là nói dối”. Vua liền cho người xem lại thật kỹ, quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên gọi là“Ngọc bích họ Hòa”và từ đó viên ngọc này được coi là quốc bảo.

Câu chuyện cũng như viên ngọc phát sáng ra nhiều ý nghĩa, có thể hiểu đó là sự mỉa mai những kẻ xu nịnh sẵn sàng hy sinh cả thân thể mình để lấy lòng bề trên. Lại có thể hiểu ngọc quý (vật quý) phải vào tay người biết dùng, nếu không có thể chết người. Có thể hiểu rộng hơn người tài phải được người đời, nhất là người có chức vị cao, có quyền hành biết đến thì mới phát huy được giá trị còn không thì cũng chỉ như hòn đá vô giá trị mà thôi. Đi kèm với tích này lại có điển tích Tương Như nước Triệu đem ngọc quý sang Tần đổi lấy 15 thành trì, thấy Tần tráo trở liền tìm cách đem ngọc về. Ý nghĩa bật ra mang tính giáo huấn: niềm tin còn quý giá hơn cả vàng ngọc!

Trong các loại ngọc thì có một loại vô giá và khoa học cũng chưa xác định rõ được thành phần hóa học. Đó là ngọc xá lợi Phật, còn gọi là ngọc xá lỵ. Hiểu giản dị thì đó là toàn thân tro cốt của Đức Phật Thích Ca -Mâu Ni sau hỏa thiêu kết thành hình dạng như những hạt đậu nhưng cứng rắn đến nỗi“dùng búa đá đập thì búa đá vỡ tan mà xá lợi không mảy may hao tổn”. Nhưng những ai có “tín tâm” thì chỉ cần niệm Phật với tất cả sự thành kính thì xá lợi lại tự vỡ.

Linh diệu nhất là xá lợi máu vì hạt nhỏ li ti có màu hồng đỏ của máu phát ra hào quang huyền diệu lung linh, óng ánh rất đẹp. Đặc điểm của xá lợi máu là không ngừng sinh sôi tức tự sản sinh ra những hạt xá lợi khác. Tương truyền chỉ có Phật Tổ là có xá lợi máu còn các vị cao tăng khác thì chỉ có xá lợi ngọc. Nhưng không phải vị cao tăng nào cũng có, theo truyền thuyết chỉ những bậc tu hành đạt đến kết quả cao nhất của quá trình tu tập mới có xá lợi. Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước, chùa nào có xá lợi Phật được coi là chùa thiêng có nhiều người đến tu hành, vãng cảnh...

Là khoáng chất quý hiếm có nguồn gốc từ thiên nhiên, được con người sử dụng cách nay khoảng 5.000 năm, ngọc mang ý nghĩa biểu trưng cho sự giàu có, quyền lực. Không chỉ quý hiếm về chất liệu, đẹp về hình thức, ngọc còn được tôn sùng về sự vĩnh cửu, thần bí và phúc lành. Phương Đông cổ coi ngọc là thứ thuốc quý, mài ra uống có tác dụng thanh lọc cơ thể, con người mạnh khỏe hơn và trẻ ra. Ngọc còn là vật phong thủy ngăn ngừa khí độc đem lại sinh khí, may mắn!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).