Nghệ thuật dùng từ mới

Người lính đích thực nào cũng muốn luôn trau dồi thứ vũ khí mà mình sử dụng trong chiến đấu, để không ngừng nâng cao tính năng tác dụng của nó. Vũ khí của nhà văn là ngôn từ và việc nhà văn nào cũng khát khao rèn giũa thứ vũ khí đó cho sắc bén, trong đó có nhu cầu sáng tạo ra những từ ngữ mới là một nhu cầu chính đáng và bức thiết. Từ xưa đến nay đều như vậy.

Tuy nhiên, sáng tạo được một từ mới thực sự có sức sống trong công chúng và thời gian để có thể bổ sung cho vốn từ vựng của dân tộc là một điều vô cùng khó khăn. Đến một bậc thi bá như Nguyễn Du với thi phẩm Truyện Kiều bất hủ mà nếu nghiêm khắc ta cũng rất khó tìm thấy một từ nào chắc chắn chỉ do cụ Nguyễn khai sinh ra. Thí dụ quen biết nhất vẫn là trong câu thơ nhằm cực tả cảnh tù túng, quẩn quanh của Kiều ở lầu xanh khi mà trong lòng thì ngổn ngang trăm mối:

“Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”
.

image002.jpg -0

Tượng Đại thi hào Nguyễn Du trong Khu tưởng niệm ông ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. 

Vào thời ấy mà dám lật ngược từ “hoàng hôn” thành “hôn hoàng” thì quả là một hành vi táo bạo chỉ có ở một bản lĩnh lớn.

Nhưng táo bạo nhất thì phải kể đến người đàn bà nổi loạn có cái tên dịu dàng Hồ Xuân Hương:

“Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
”.

Giữa cái cảnh ao tù nước đọng ngày ấy, một từ như từ “phòm” ném ra ở đây thì đúng là một quả bom - như cách nói bây giờ đó còn là một quả bom “xếch” nữa kia. Đây là một từ thuần Việt không tiền khoáng hậu, trước Hồ Xuân Hương chưa ai dùng và sau bà cũng chẳng ai dám dùng. Vì nó độc quá, tức là nó đúng quá, nó theo nguyên tắc dùng cấu trúc phát âm để tượng hình, nó được dùng tuyệt đối đúng chỗ và đúng thần, nó là độc đắc, là “số dách”, không thể tùy tiện nhấc sang chỗ khác.

Cái tài của người dùng chữ ở đây là đặt nó lên ngai rồi lại phải bày ra tả phù hữu bật để giữ cho cái triều đình từ ngữ ấy vững như bàn thạch: Tả phù hữu bật ở đây là từ “nứt” và đặc biệt là cụm từ “hỏm hòm hom”, một nhóm từ cũng độc đáo và tài tình không kém, nó là nét mực bổ sung tô đậm thêm cho lý do tồn tại của từ “phòm” - hãy thử hình dung, nếu không có cụm từ bổ trợ ấy thì từ “phòm” sẽ chân không bén đất, cật không bén giời, lơ lửng thế chưa chừng đổ cũng nên!

Có lẽ chính vì thế mà mặc dù xưa nay thiên hạ đều bái phục cái cách dùng từ tài tình hy hữu này, nhưng từ sau lần ra mắt đó đến nay chưa một ai dám dùng lại nó, vì nếu dùng thì phải dùng luôn cả cụm từ hỗ trợ sau đó, mà như thế thì bất tiện quá, thành ra ăn cắp rồi còn gì.

Cũng tài tình và độc đáo như thế là hai câu:

“Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Nó bảo nhau rằng: ấy ái uông”.

Sự chính xác và giản dị đến mức hồn nhiên làm nên tính bất ngờ mà hợp lý không chê vào đâu được của cụm từ “ấy ái uông”. Đấy là thứ của báu trời cho, là mẫu mực cho cái mà ta vẫn gọi là “xuất khẩu thành thơ” mà chỉ những thiên tài của nghệ thuật ngôn từ như Bà Chúa thơ Nôm mới có được, mà trong đời cũng chỉ có được đôi ba lần thôi. Gọi đây là “lăng xê” từ mới có thể chưa chính xác về khái niệm vì mấy tiếng “ấy ái uông” có thể chưa phải là từ mà chỉ là những âm thanh biến dạng của người ngọng, nhưng ít ra thì đó cũng là một cách diễn đạt bằng âm thanh tài tình thuộc loại độc nhất vô nhị, bởi nó vẫn hàm chứa ngữ nghĩa ở bên trong, nên không có cách gì khác hơn là phải coi đó như một cụm từ mới sáng tạo của nhà thi sĩ.

Hình thức mặc dù cũng có những giá trị tự thân, nhưng về cơ bản vẫn là để chở nội dung và do vậy cũng về cơ bản chỉ những sáng tạo hình thức bắt nguồn từ nhu cầu có thực của nội dung mới hy vọng có sức sống - đương nhiên là với những sáng tạo thành công. Chính vì vậy, một cuộc sống tù đọng thì vốn từ ngữ cũng quẩn quanh - bốn ngàn năm phong kiến trước sau cũng chỉ có “chi hồ giả dã”, “hỷ nộ ái ố” ... Ngược lại, một cuộc sống sinh sôi, năng động như thời hiện đại thì buộc phải có những ngôn từ mới, để có thể chuyển tải những chất liệu sống ngày càng rộng hơn và sâu sắc, tinh vi hơn.

image001.jpg -0

 Tượng nữ sỹ Hồ Xuân Hương trong Khu tưởng niệm bà ở làng Quỳnh (nay là Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An).

Ta sẽ thấy dấu ấn rất rõ của thời đại trong sự giao thoa từ ngữ, có những từ thoạt đầu là thuộc một khu vực nào đó nhưng dần dà trở thành vốn từ phổ cập, chẳng hạn “mã hóa”, “giải mã”, “bảo lãnh”, v.v. . . và đặc biệt là từ “hóa giải”, một từ có nội hàm rất rộng lớn và được dùng rất hiệu quả trong những tình huống đặc biệt khó diễn đạt.

Dạo ở Trường Sơn, tôi thường nghe lính tráng ca cẩm tình trạng “bang bách” để chỉ công việc bộn bề, ngổn ngang; lại có nhà  văn hay nói từ “khảng tảng” mà thú thực tôi cũng không thật hiểu nghĩa là gì, còn nhà thơ Trần Đăng Khoa thì nhắc lời nhà thơ Xuân Diệu chỉ sợ đến lúc mình như gái già không ai “ỏ ê” đến nữa. Anh Khoa cũng hay giễu mấy ông phê bình tầm chương trích cú cứ thích “vạch vòi” câu chữ, hoặc một nhà văn khác thì bảo mấy vị ấy có ít thì cứ nói “vóng vót” lên thành nhiều,  đến mức thành ra “vóng véo”!

Viết về cái tài nhìn xa trông rộng của Bác Hồ, tôi cũng nói rằng mọi đường đi nước bước của cách mạng Việt Nam “đã hình dung  trong vạch vẽ của người”. Rõ ràng ở đây có những nhu cầu thực sự đang cựa quậy bên trong khiến cho người nói khổ sở như người đau đẻ, phải cố mà rặn cho ra một cái sinh linh gì đó nó đang đòi ra mà chưa biết hình hài sẽ như thế nào. Nhà thơ Hữu Thỉnh viết:

“Chị không thể làm như con rắn que cời
Lột cái xác già nua dưới gốc cây cậm quẫy”.

Từ “cậm quẫy” có vẻ như là sáng tạo của nhà thơ này. Nguyễn Duy cũng thích nhào nặn từ ngữ, trong bài “Vợ ốm”, anh viết:

“Tình cờ em ngã bệnh ngang
Phang anh xất bất xang bang sao đành”.

Tôi không tin trong từ điển có cụm từ “xất bất xang bang”, hình như nó có đâu đó trong những câu nói dân dã của bà con miệt vườn Nam Bộ, nhưng đặt vào đây thấy được, không để nỗi bật ra - nó có vẻ như là bà con xa với từ “bang bách” vừa nói ở trên.

Trở lại với nhận xét chính cuộc sống phát triển năng động đẻ ra từ ngữ mới, xin lấy ngay thí dụ ở cái hoạt động mà ở xứ ta nhiều lúc người ta phát điên lên vì nó, tức là bóng đá, thì sẽ rõ. Tôi thực sự khâm phục cái cách mà những người có liên quan đến bóng đá ném ra hàng xêri những từ mới nhằm diễn đạt những gì diễn ra trên các chảo lửa, từ cách gọi những vị trí thi đấu trên sân như “hậu vệ thòng, hậu vệ dập, hậu vệ quét”, rồi “tiền vệ trụ, tiền vệ lùi” cho đến “tiền đạo cắm”… đặc biệt là những từ mô tả các hành vi và động thái rất chính xác và đầy biểu cảm: dãn biên, chồng cánh, bắt người, pretxing, độ rướn, nhịp, vuốt, lốp, vẩy, chọc khe, luồn trôn kim, v.v và v.v. . . Nhưng ấn tượng nhất là gần đây đã nghe từ miệng một huấn luyện viện khen cầu thủ trụ cột, một nhạc trưởng của đội mình là: “Cậu ấy có khả năng “đọc” được trận đấu?”. Thật tuyệt vời – văn, thơ đấy chứ còn ở đâu nữa!

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).