Ngày xuân, luận bàn về quân tử và tiểu nhân

Trong giao tiếp, đôi khi người Việt ta vẫn hay nhắc đến 2 từ "quân tử" - "tiểu nhân". Khái niệm "quân tử" - "tiểu nhân" tuy của Trung Quốc nhưng lại khá phổ biến trong văn hoá Việt. 

Trên đất Trung Hoa xưa, hai từ này nhằm chỉ người thuộc hai đẳng cấp xã hội. Quân tử là người có địa vị, quyền thế, ngược lại, tiểu nhân thuộc tầng lớp đối lập. Từ điển Từ Nguyên định nghĩa: "Quân tử là người nam thuộc tầng lớp quý tộc, thống trị, còn kẻ bị trị là tiểu nhân hoặc dân quê". Từ  điển Từ Hải giải thích tỉ mỉ hơn: "Thời Tây Chu, Xuân Thu, từ "quân tử" chỉ người thuộc tầng lớp quý tộc, thống trị…, còn "tiểu nhân" là kẻ bị trị. Những năm cuối thời Xuân Thu về sau, từ quân tử, tiểu nhân dần chuyển nghĩa thành "người có đức" và kẻ "vô đức".

Ngày xưa ở nước ta, các nho sĩ chỉ tập trung học kinh sách Khổng Tử nên trường nghĩa "kẻ có đức/kẻ vô đức" của hai từ "quân tử/tiểu nhân" đã lan rộng và trở thành nghĩa duy nhất trong ngôn ngữ Việt. Khen ai đó là quân tử, chê ai đó là tiểu nhân thì hầu như ai cũng hiểu đây là hai nhân cách đối lập. Cách hiểu này xuất phát từ tư tưởng Nho giáo.

Nho giáo tập trung giáo dục con người

Ở Trung Hoa, tư tưởng nhà Nho vốn có từ thời thượng cổ, về sau được các học giả hệ thống lại. Người có công lớn là Khổng Tử. "Tứ thư" (Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học) là bộ sách kinh điển của nhà Nho bàn nhiều về quân tử và hình mẫu đối lập là tiểu nhân.

Chân dung Khổng Tử.
Chân dung Khổng Tử.

Quân tử luôn rèn luyện 5 đức:

- Nhân là yêu người. Điều mình không muốn thì không làm cho người.

- Lễ là nghiêm cẩn tuân theo khuôn phép trong giao tiếp, cũng như trong việc thờ cúng. Nhất thiết không vụ hình thức.

- Nghĩa là luôn cư xử theo đạo lý, lẽ phải. Người có nghĩa không chạy theo lợi, không vì lợi mà quên nghĩa. Ngoài ra, để thực hiện nghĩa, người quân tử phải có dũng. "Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả" (thấy điều nghĩa mà không làm thì không phải là người có dũng).

- Trí là biết suy xét tinh tường để hành xử đúng lẽ phải.

- Tín là nói và làm đi đôi với nhau. Điều gì đã hứa, đã nói thì không làm trái lại.

Quân tử luôn trau dồi, thực hiện nhân nghĩa…, còn tiểu nhân thì ngược lại, chỉ chạy theo lợi trước mắt. Sách "Đại học" viết: "Đến đứa tiểu nhân, hễ ở rảnh rang một mình thì làm việc chẳng lành, không có chuyện bậy bạ nào mà nó chẳng làm. Tới chừng gặp bậc quân tử là người thành thật thì nó lấm la lấm lét, che giấu điều tồi tệ của nó, mà trưng bày điều tốt ra. Nhưng bậc quân tử sáng suốt nhìn nó, như thấy tận gan phổi của nó lận. Như vậy, chẳng thành thật có ích gì? Đó mới gọi là tâm ý ở trong làm sao thì hiện ra ngoài làm vậy. Bởi vậy cho nên bậc quân tử dè dặt lấy mình, khéo giữ gìn tư tưởng và hành động trong khi ở riêng  một mình…".

Xem cách phân biệt trên, rõ ràng hai hình mẫu có nhân cách hoàn toàn trái ngược: người quân tử thì thành thật, kẻ tiểu nhân thì gian trá, luôn che giấu những điều tồi tệ.

Làm người quân tử không dễ

Khổng Tử sinh trưởng vào cuối thời Xuân Thu. Xã hội Trung Hoa lúc này cực kì hỗn loạn. Đến thời Chiến quốc (403 - 221 TCN), các nước đua nhau rèn vũ khí, trang bị giáp trụ, chiến xa... Người ta chỉ nhìn cái lợi trước mắt, thấy sức mạnh vũ lực là phương tiện hiệu quả để mưu lợi. Chính vì vậy, lí thuyết Nhân-Nghĩa của Khổng Tử không được đón nhận.

Khổng Tử sinh trưởng trong cảnh nghèo nhưng rất ham học, nổi tiếng là người học rộng, có chí hướng mong muốn cải tạo xã hội bằng lí tưởng Nho. Mãi đến năm 51 tuổi, ông mới được vua Lỗ dùng làm quan Trung Đô Tể lo việc chính trị, cai quản kinh đô rồi được thăng chức Đại tư khấu, rồi thăng Nhiếp tướng sự (tương đương chức Tể tướng). Chỉ được một thời gian ngắn, do thấy Lỗ hầu đắm sắc dục nên ông bỏ đi, qua nhiều nước: Vệ, Khuông, Tống, Trần, Thái, Diệp, Sở… Đi nhiều nhưng thấy không có nơi nào có thể thi hành đạo của mình, ông bèn trở về quê hương, dạy học và viết sách truyền bá Nho học. Lúc này ông đã 68 tuổi.

Hình ảnh Tống Giang trong phim "Thủy Hử".
Hình ảnh Tống Giang trong phim "Thủy Hử".

Như vậy, ngay từ đầu tư tưởng của Khổng Tử đã không được chấp nhận trên đất Trung Hoa vì một lí do đơn giản là Khổng Tử thì chủ trương chí thành, dùng nhân nghĩa để quản lí xã hội, trong khi các vua chúa cũng như các quan đại phu của liệt quốc lúc này phần lớn đều muốn dùng sức mạnh để đè người. Nói một cách đơn giản, cái hạnh của người quân tử như Khổng Tử không thể chung sống, chung sức được với cả quần thể tiểu nhân rộng lớn. Chính Khổng Tử đã than "Đạo chi bất minh dã, ngã tri chi hĩ" (Đạo ta không sáng ra được, ta biết điều đó rồi) khi thấy lí tưởng không thể truyền bá. Những năm gần cuối đời, Khổng Tử tự ví như con chó lang thang không nhà (táng gia cẩu).

Cả các triều đại về sau cũng vậy: Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín… của Nho giáo chẳng qua chỉ là bức họa trang trí, tấm bình phong tư tưởng. Truyện "Thủy Hử" kể chuyện đời Tống: Cả một xã hội rộng lớn nhung nhúc đầy những quan lại tham ô. Quan xuất thân từ tầng lớp Nho sĩ, hàng ngày vẫn đọc kinh sách Nho giáo nhưng khi có quyền chức thì quên bỏ đức quân tử để trở thành những tiểu nhân chính hiệu, theo lợi mà sẵn sàng bỏ nghĩa. Kẻ giàu có thì dùng mọi thủ đoạn để bóc lột người, coi người nghèo như rơm rác. Bọn thảo khấu thì giết người không gớm tay.

Tuy truyện đề cao nghĩa, kể về cuộc nổi loạn chống lại vua chúa nhà Tống, song đã kể nhiều chi tiết rất dã man của xã hội: Tôn Nhị Nương, biệt danh "Mẫu dạ xoa", cùng với chồng là Trương Thanh mở quán rượu ở núi Thập Tự, đánh thuốc mê, cướp tài sản khách bộ hành rồi xả thịt nạn nhân giả làm thịt trâu đem bán và làm nhân bánh bao - chuyện xưa nay không thể xảy ra ở nước ta, cũng như ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Đời Hán là triều đại thịnh vượng của Nho học nhưng đạo Nho cũng chỉ được dùng làm phương tiện. Hán Cao Tổ vốn xuất thân ít học, sau khi thắng Sở Bá Vương, diệt Tần… đã không mấy ưa các nho sĩ, không muốn phổ biến Nho giáo. Về sau, vì Lục Cố ra sức can ngăn, phân tích rõ lợi ích của đức trị, Hán Cao Tổ mới thay đổi ý định. Vậy nhưng việc làm tàn độc của Hán Cao Tổ thì hoàn toàn trái với nhân nghĩa.  Lần lượt các công thần bậc nhất như Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố… bị giết, bị tru di ba họ; xác Bành Việt bị chặt ra làm mắm gửi cho chư hầu… Vợ Hán Cao Tổ là Lã Hậu cũng nổi tiếng cực kì dâm đãng và độc ác.

Đời Tần là cao điểm của việc chống lại tư tưởng nhân nghĩa. Tần Thủy Hoàng dùng hình pháp… ra lệnh đốt sách, chôn học trò. Cả nước Trung Hoa lúc này trở thành nhà ngục rộng lớn. Mao Trạch Đông từng ca ngợi Tần Thủy Hoàng là anh hùng và đả kích Khổng Tử đến thậm tệ: "Khổng Tử là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến".

Rõ ràng lí tưởng Nho giáo từ xưa đến nay hầu như rất hiếm khi có chỗ đứng trong xã hội Trung Quốc, bởi chính người Trung Quốc đã không thể dung nạp. Lỗ Tấn, nhà văn giàu tư tưởng nhân bản đã ngậm ngùi viết truyện ngắn "Thuốc" kể chuyện thời Nhật thuộc: Người ta có thể nô nức đi xem chính người Trung Quốc bị chặt đầu, lính ngục còn lấy bánh bao tẩm máu tươi của người vừa bị xử tử đem bán cho người ốm nướng lên ăn làm thuốc…

Thượng tướng Lưu Á Châu, lúc đang là Chính uỷ không quân Quân khu Thành Đô Trung Quốc trong bài nói chuyện tại căn cứ quân sự Côn Minh ngày 11-9-2002 đã bàn về các hạn chế lớn trong tư tưởng người Trung Quốc: "Hoan hỉ xem người ta bị chặt đầu - Hoan hỉ xem cảnh người ta chuẩn bị nhảy lầu tự tử, lại còn thích thú kêu to lên "khoái khiêu, khoái khiêu!" (nhảy mau lên, nhảy mau lên!), cho tới khi Cảnh sát đến mang người muốn tự sát xuống thì những kẻ đứng xem còn tỏ vẻ tiếc nuối vì lỡ dịp không xem được chuyện vui…!".

Viên tướng Lưu Á Châu gọi đây là thói bỉ tục (thấp hèn-đê tiện) của người Trung Quốc.

Tất cả những tính cách trên là ngược với những gì Khổng Tử từng mơ tưởng xây dựng ở hình mẫu người quân tử. Trong xã hội Trung Quốc, người quân tử ít xuất hiện, hoặc nếu xuất hiện thì chỉ là những ngụy quân tử - là những tiểu nhân chính hiệu nhưng lại khéo trá hình để người đời nhầm là quân tử. Nhân vật Nhạc Bất Quần trong truyện của Kim Dung là ngụy quân tử. Nhân vật Tống Giang trong suốt 70 hồi của Thủy Hử được quần hùng tôn vinh nhưng rốt ráo lại cũng chỉ là ngụy quân tử.

Nguyễn Cẩm Xuyên - Xuân 2015

Các tin khác

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.