Ngày Tết ở các cung đình xưa

Thưởng Tết là một trong những phong tục cổ xưa nhất của người Việt, từng được đề cập đến trong những nguồn sử liệu ra đời cách nay 7-8 trăm năm.

Từ đó đến nay, phong tục ăn Tết, thưởng Xuân thay đổi dần theo từng triều đại, cho phù hợp với từng bước đi của lịch sử, song cốt cách vui Tết của cha ông chúng ta vẫn còn giữ nguyên những nét truyền thống của một xã hội Đông phương, uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn của tổ tiên và những người đi trước.

Một trong những sử liệu lâu đời nhất của Việt Nam đề cập đến ngày Tết cung đình là bộ An Nam chí lược do Lê Tắc soạn vào khoảng nửa đầu thế kỷ 14. 

Trẻ em trong ngày tết xưa - Ảnh Dieulefils.
Trẻ em trong ngày tết xưa - Ảnh Dieulefils.

Trong quyển 1, chương “Phong tục”, Lê Tắc đã miêu tả những ngày Tết đời nhà Trần khá chi tiết và thú vị: “…Thường năm, trước lễ Tết hai ngày, vua đi xe ngự dụng, các quan tùy tùng đều mặc triều phục hầu đạo tiền, tế điện Đế Thích. Ngày 30 Tết, vua ngồi giữa cửa Đoan củng, các bề tôi đều làm lễ, lễ rồi, xem các con hát múa trăm lối. Tối lại qua cung Động Nhân, bái yết Tiên vương. 

Đêm ấy, đoàn thầy tu vào nội làm lễ “Khu Na” (đuổi tà ma quỷ mị). Dân gian thì mở cửa đốt pháo tre, cỗ bàn trà rượu cúng tổ. Con trai, con gái nhà nghèo, không có người mai dong để làm hôn lễ thì tự mình phối hợp với nhau. Ngày Nguyên đán, vào khoảng canh năm, vua ngồi trên điện Vĩnh Thọ, các tôn tử (con cháu nhà vua), các quan cận thần làm lễ hạ trước, rồi vào cung Trường Xuân, vọng bái các lăng tổ. 

Buổi sáng sớm, vua ngồi trên điện Thiên An, các phi tần sắp lớp ngồi, các quan trong nội đứng lộn xộn trước điện, đánh thổi các bài ca nhạc trước đại đình. Con cháu nhà vua và bề tôi sắp hàng bái hạ, ba lần rót rượu dâng lên. Xong các tôn tử lên điện chầu và dự yến. Các quan nội thần ngồi tiểu điện phía tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên tả, hữu vu, ăn tiệc, đến trưa lần lượt đi ra… 

Ngày mồng hai Tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà. Ngày mồng ba Tết, vua ngồi trên gác Đại Hưng, xem các tôn tử và các quan nội cung đánh quả bóng (quả cầu thêu), hễ bắt được mà không rơi xuống đất là thắng… Mồng năm Tết, lễ khai hạ, ăn yến xong thì để quan và dân lễ các chùa miếu, và du ngoạn các vườn hoa. Đêm nguyên tiêu (rằm tháng giêng), trồng những cây đèn ở giữa sân rộng, gọi là đèn Quảng Chiếu”, thắp đến mấy vạn ngọn, sáng rực cả trên trời dưới đất, thầy tu đi quanh tụng kinh Phật, các quan liêu lễ bái, gọi là “chầu đèn” (triều đăng)”.

Vua Đồng Khánh (1864-1889), ảnh chụp vào năm 1886 trên Tạp chí L'echo du Nord.
Vua Đồng Khánh (1864-1889), ảnh chụp vào năm 1886 trên Tạp chí L'echo du Nord.

Thời Lê Trịnh, người thực sự nắm mọi quyền hành trong nước không phải là vua Lê, mà là chúa Trịnh và Thế tử, con trai trưởng của chúa, người sẽ kế nghiệp chúa và thường giữ chức Tiết chế, đứng đầu hàng quan lại trong triều. Tuy nhiên, về mặt nghi thức, trong các ngày lễ Tết, vua Lê vẫn được coi là người chủ trì các nghi thức quan trọng trong triều, có điều là các ngày lễ Tết diễn ra nhiều nghi thức hơn trước. 

Sáng ngày mùng một Tết, theo lệnh chúa Trịnh, quan Tiết chế (Tiết chế phủ) hướng dẫn các quan văn võ mặc phẩm phục vào chầu mừng nhà vua. Vua Lê ngự giữa điện Kính Thiên, Tiết chế phủ đứng ở phía đông sân rồng, các quan văn võ đứng hai bên sân rồng. 

Phần chủ yếu trong nghi lễ là phần các quan quỳ xuống nghe viên quan Đại trí từ đọc tờ biểu của Tiết chế phủ, đại ý: “Khâm sai tiết chế thủy bộ chư doanh tên là… cùng công hầu bá và các quan văn võ, vâng chỉ của chúa, kính cẩn vâng lời: nay gặp tiết chính nguyên đán, chúng tôi kính nghĩ rằng Hoàng đế Bệ hạ kính chịu mệnh Trời, sáng cầm nghiệp lớn, gặp ngày chính đán, thêm hưởng phúc lành, chúng tôi khôn xiết vui mừng chúc tụng, kính chúc nhà vua sống lâu muôn năm”. 

Sau đó, quan truyền chế tuyên đọc tờ chế của vua với nội dung ngắn gọn: “Hoàng thượng chế rằng: Phúc thịnh vượng hanh thông, với các ngươi cùng hưởng” (Hoàng thượng chế viết: Thái hanh chi khánh, dữ khanh đẳng đồng chi).

Sau nghi lễ chúc mừng năm mới tại cung điện vua Lê, Tiết chế phủ lại dẫn các quan đến phủ Chúa để chúc mừng chúa Trịnh. Sáng mùng một Tết, chúa Trịnh đến hành lễ ở Thái miếu và Cung miếu rồi quay về phủ, ngồi trên sập rồng (long tọa) để bách quan lạy mừng. 

Tướng Prudhomme (1833 - 1921).
Tướng Prudhomme  (1833 - 1921).

Xong nghi thức, chúa ban tiền thưởng Xuân cho các quan từ nhất phẩm triều đình trở xuống và cho mọi người được dự yến. Tiệc yến xong, các quan làm lễ tạ ơn, chúa lui vào cung, Tiết chế phủ về phủ. Các quan lại sang phủ Tiết chế chúc mừng Thế tử. Đến đó thì nghi thức rườm rà ngày chính đán (mùng một Tết) mới kết thúc.

Giáo sĩ Pháp Alexandre de Rhodes từng sống ở Đàng Ngoài những năm 1627-1630, dưới thời vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng, từng chứng kiến lễ Tết tại thành Thăng Long (thời đó gọi là Kẻ Chợ), có kể lại trong tác phẩm Histoire du Royaume de Tunquin (Lịch sử Vương quốc xứ Đàng Ngoài). 

Đọc Rhodes, chúng ta biết rằng ngoài những nghi thức trong ngày lễ chính đán, ngày mùng ba Tết, bách quan tề tựu tại cung điện để tháp tùng vua Lê và chúa Trịnh đi hành lễ ở một địa điểm ngoại thành. Vua ngồi trên ngai vàng do binh lính khiêng trên vai, còn chúa thì ngồi trên xe thếp vàng, theo sau là các tiến sĩ, cử nhân tại địa phương. 

Khi đám rước dừng lại trên một cánh đồng ở ngoại thành, nơi nhiều người dân đã có mặt từ sớm để chờ giờ hành lễ, nhà vua bước xuống ngai, làm lễ tế Trời Đất, rồi đi xuống ruộng, tay cầm cày, mở một luống cày trên cánh đồng nhằm khuyến khích dân chúng siêng năng cày cấy để mùa màng tươi tốt, lúa gạo đầy sân.

Dưới triều Nguyễn, ngày Tết thời vua Gia Long được một chứng nhân đương thời là Michel Đức Chaigneau (con trai Jean Baptiste Chaigneau, người từng làm quan qua hai triều Gia Long, Minh Mạng với tên Việt là Nguyễn Văn Thắng) miêu tả trong tác phẩm Souvenirs de Hue (Những hồi ức về Huế) xuất bản năm 1867 tại Pháp. 

Theo Đức, hàng năm, vua Gia Long có lệ tặng quà cho các quan đại thần. Quà thường gồm quần áo hay vải vóc dệt ở Trung Quốc, đựng trong hộp màu vàng, được quân lính dùng lọng che và mang đến tận nhà người nhận quà. 

Trong mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà vua và các giáo sĩ (không như dưới triều vua Minh Mạng), nhân dịp lễ tết hàng năm, một giám mục Pháp tên de Véren thường ngồi kiệu đến cung điện, biếu nhà vua hai chai nước thơm Eau de Cologne, và nhà vua tỏ ra ưa thích món quà này lắm. 

Sáng mồng một Tết, bá quan mặc phẩm phục đại triều, tập hợp ở cung điện, quan nhất phẩm đứng ở hàng đầu, quan nhị phẩm hàng thứ hai, theo thứ tự như thế cho đến người có phẩm cấp thấp nhất (thông thường là quan tứ, ngũ phẩm trở lên). Các quan quỳ xuống, chúc tụng nhà vua muôn tuổi (vạn tuế) rồi sau đó ai về nhà nấy.

Thời vua Minh Mạng, vào ngày mùng một Tết hàng năm, nhà vua đội mũ chín rồng, mặc áo vàng, thắt đai ngọc, hành lễ tế tại nhà Thái miếu, tức nhà thờ Tổ tiên các vua triều Nguyễn dựng trong kinh thành Huế. 

Michel Đức Chaigneau, người từng chứng kiến và miêu tả lễ Tết triều Gia Long (ảnh chụp năm 1873).
Michel Đức Chaigneau, người từng chứng kiến và miêu tả lễ Tết triều Gia Long (ảnh chụp năm 1873).

Những ngày đầu năm mới, định lễ Tế Giao vào một ngày tốt thuộc tháng trọng xuân (tháng hai âm lịch). Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm Gia Long thứ năm (1806) để hợp tế Trời Đất, thờ Trời trên cái gò hình tròn, thờ Đất trên cái đàn hình vuông, ngoài ra còn thờ các vị thần mây, mưa, gió, sấm…

Sang thời Pháp thuộc, lễ Tết năm Bính Tuất triều Đồng Khánh diễn ra vào ngày 4-2-1886 khác hẳn mọi năm. Sau cái chết của vua Tự Đức, việc triều chính rối tung, các hoàng thân thay nhau lên ngôi, không vị nào ngồi trên ngai vàng được quá một năm. 

Khi hoàng thân Ưng Đường tức ông hoàng Chánh Mông được người Pháp dựng lên với niên hiệu Đồng Khánh thay cho em ông là vua Hàm Nghi đã xuất bôn khỏi kinh thành Huế sau sự biến “thất thủ kinh thành” đêm ngày 4 rạng ngày mùng 5 tháng 7-1885, có tin đồn là nhà vua bị thực dân giam cầm trong cung. 

Thực dân Pháp bị ám ảnh bởi tin đồn đó, song trong lúc chưa biết cách giải quyết như thế nào thì những ngày Tết đến gần đã giúp cho tướng Prudhomme, viên sĩ quan cao cấp nhất của Pháp tại Huế, nghĩ ra một lối thoát. Đó là nhân ngày Tết Nguyên đán, vua Đồng Khánh sẽ thực hiện một cuộc vi hành trên đường phố Huế để dân chúng tận mắt thấy rằng ông vẫn còn tự do và sống thoải mái như một bậc thiên tử.

Vì thế, không như những ngày tết khác, sáng ngày mồng một Tết năm đó, vua Đồng Khánh dành thời gian tiếp tướng Prudhomme, các sĩ quan và viên chức Pháp thuộc tòa Khâm sứ Huế. Buổi lễ diễn ra long trọng với diễn văn của Prudhomme, đáp từ của vua Đồng Khánh và công bố việc trao huân chương cho một số sĩ quan cao cấp Pháp.

Hai giờ rưỡi chiều ngày mồng một tết, tướng Prudhomme cùng bộ chỉ huy quân sự của ông ta và các viên chức hành chính của Pháp hộ tống vua Đồng Khánh thực hiện cuộc vi hành trên các đường phố Huế. Nhà vua ngồi trên một chiếc kiệu sơn son thếp vàng không che phủ để cho mọi người dân nhìn thấy long nhan. 

Đội thị vệ trong cung và các toán lính Pháp dẫn đầu và đoạn hậu xa giá của nhà vua, theo sau là đội tượng binh, các hoàng thân trong triều, các quan thượng thư và nhiều quan lại khác. Khi đoàn xa giá đi qua kinh thành và khu Đông Ba, đàn sáo nổi lên inh ỏi. Tất cả các ngôi chùa ở Huế đều treo đèn và cờ quạt. Ở mỗi hộ gia đình, bàn thờ gia tiên được trang trí hoa và đèn nến, giấy vàng bạc sáng rực cạnh những chiếc lư hương đồng. 

Trên con đường nhà vua đi qua, dân chúng quỳ, cúi rạp người xuống đất, rồi đứng lên, bày tỏ niềm vui bằng cách reo hò trong tiếng nổ vang của pháo. Khi xa giá đến trước bộ chỉ huy quân sự của Pháp, vua Đồng Khánh bước xuống kiệu, cùng với các đoàn tùy tùng cả hai phía Việt và Pháp dùng một bữa ăn nhẹ mà tướng Prudhomme đã chuẩn bị để mừng ông. 

Tiếng kèn đồng vang lên chào mừng sự hiện diện của nhà vua cùng các quan lại Việt. Sau bữa ăn, đoàn xa giá xếp lại đội ngũ, các binh sĩ bắn một loạt súng dài. Vua Đồng Khánh lên kiệu quay về cung, cũng theo một cung cách như lúc ra đi.

Chiều tối hôm đó, nhà vua cho tổ chức một bữa tiệc lớn để chiêu đãi tướng Prudhomme, quyền Tổng trú sứ Hector cùng các sĩ quan, viên chức Pháp. Bữa ăn được phục vụ theo kiểu Tây trong âm thanh của dàn nhạc cung đình.

Đó là một trong những cái tết cung đình đáng nhớ vào năm Bính Tuất 1886, thời Pháp thuộc.

Lê Nguyễn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?